CHƯƠNG 1CO SỞ LÝ LUẬN VE SAN XUẤT NOI DUNG SÓ CỦATRUYÈN HÌNH 1. CÁC KHÁI NIỆM LIEN QUAN DEN DE TÀI 1. Truyền hình, công nghệ số a. Khái niệm truyền hình Theo Từ điển Tiếng Việt, động từ “truyền hình” được định nghĩa là: “truyền hình ảnh, thường đồng thời có cả âm thanh, di xa bang radio hoặc bằng đường dây”.
Danh từ của “truyền hình” thực chất là viết tắt của “vô tuyến truyền hình” Trong cuốn Truyền thông đại chúng của tác giả Tạ Ngọc Tấn, NXB Chính trị Quốc gia- Hà Nội 2011, khái niệm về truyền hình được chỉ rất rõ: “Truyén hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng, chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyện hình (television) bắt nguôn từ hai từ tele có nghĩa là: “ở xa” và vision là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa ””[1, tr. Truyền hình, hay còn được gọi là TV (Tivi) hay vô tuyến truyền hình (truyền hình không dây), máy thu hình, máy phát hình, hay vô tuyến là hệ thống điện tử viễn thông có khả năng thu nhận tín hiệu sóng và tín hiệu vô tuyến hoặc hữu tuyến để chuyên thành hình ảnh và âm thanh (truyền thanh truyền hình) và là một loại máy phát hình truyền tải nội dung chủ yếu bằng hình ảnh sống động và âm thanh kèm theo. Máy truyền hình là máy nhận những tín hiệu đó và phát ra hình ảnh.
Được đưa ra thị trường đầu tiên trong hình thức rất thô sơ trên cơ sở thử nghiệm vào cuối năm 1920, sau đó được phô biến với việc cải thiện rất nhiều về hình thức ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các máy thu truyền hình (tivi) đã trở thành phổ biến trong gia đình, các doanh nghiệp và các tô 13 chức, chủ yếu là một phương tiện dé giải trí, quảng cáo và xem tin tức. Trong những năm 1950, truyền hình đã trở thành phương tiện chính dé định hướng dư luận.Vàonhững năm 1960, việc phát truyền hình màu và kinh doanh máy thu hình màu tăng ở Mỹ và bắt đầu ở hầu hết các nước phát triển khác. Sự sẵn có của các phương tiện lưu trữ như VHS (giữa năm 1970), laserdisc (1978), Video CD (1993), DVD (1997), và Blu-ray độ nét cao (2006) cho phép người xem sử dụng các máy truyền hình để xem và ghi nhận các tài liệu như phim ảnh và các tài liệu quảng bá. Ké từ những năm 2010, truyền hình Internet đã gia tăng các chương trình truyền hình có sẵn thông qua Internet thông qua các dịch vụ như iPlayer, Hulu, và Netflix.
Trong năm 2013, 79% hộ gia đình trên thé giới sở hữu một chiếc tivi. Việc thay thế các màn hình hiền thị với ống cao áp cathode (CRT) to nặng với các lựa chọn thay thế nhỏ gọn, tiết kiệm năng lượng, màn hình phăng như màn hình plasma, màn hình LCD (cả huỳnh quang-backlit và LED-backlit), và màn hình OLED là một trong những cuộc cách mạng phần cứng. Nó bắt đầu thâm nhập vào thị trường màn hình máy tính của người tiêu dùng vào cuối năm 1990 và nhanh chóng lan rộng đến các thiết bị truyền hình. Trong năm 2014, hầu hết các thiết bị TV LCD bán ra là chủ yếu là màn hình LCD LED-backlit.
Các nhà sản xuất TV lớn thông báo về việc ngừng sản xuất màn hình CRT, RPTV, plasma và LCD và thậm chí cả huỳnh quang-backlit vào năm 2014. TV LED được dự kiến sẽ được thay thế dần bằng TV OLED trong tương lai gần. Các tín hiệu truyền hình được phân phối như tín hiệu truyền hình phát sóng được mô hình hóa trên hệ thống phát sóng radio trước đó. Phát sóng truyền hình sử dụng máy phát vô tuyến tần số công suất cao phát sóng tín hiệu truyền hình đến các máy thu truyền hình cá nhân.
Cho đến đầu những năm 2000, tín hiệu truyền hình phát sóng là tín hiệu analog nhưng các nước nhanh chóng bắt đầu chuyền sang tín hiệu kỹ thuật số, với việc chuyên đổi dự kiến 14 sẽ được hoàn thành trên toàn thế giới vào năm 2020. Ngoài ra dé truyền trên mặt đất, tín hiệu truyền hình cũng được phân phối bằng cáp (chuyên đổi kỹ thuật số) và vệ tinh các hệ thống kỹ thuật số. Thực chất, cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh. Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền thông, cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở cho truyền hình có thé thích ứng nhanh chóng với những đặc trưng kỹ thuật riêng của mình.
Cũng trong cuốn Truyén thông đại chúng, tác giả Ta Ngoc Tan khang định: “Sw xuất hiện của truyén hình như một điều than kỳ trong sáng tạo của COH người. Với sự kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh, truyền hình mang lại cho con người cảm giác VỀ một cuộc sống rất thật, đang hiện điện trước mắt. Đó là cuộc sống thật nhưng đã được cô đọng lại, làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức và làm phong phú hơn về những khía cạnh, bình diện, đường nét sinh động” (1, tr. Khái niệm công nghệ số Trong cuộc sống, con người giao tiếp với nhau bằng tín hiệu tương tự, biểu diễn dưới dạng giọng nói.
Còn trong môi trường số, các thiết bị tính toán giao tiếp với nhau bằng tín hiệu số, biéu diễn dưới dạng tín hiệu nhị phân là 0 và 1. Công nghệ só, hiểu theo nghĩa rộng, là công nghệ xử lý tín hiệu số, hay công nghệ thông tin. Còn trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số, hiểu theo nghĩa hẹp, là một bước phát triển cao hơn, là bước phát triển tiếp theo của công nghệ thông tin, cho phép tính toán nhanh hơn, xử lý dữ liệu nhiều hơn, truyền tải dung lượng lớn hơn, với chi phí rẻ hơn. Còn hiểu theo nghĩa rộng, công nghệ số là một trong các nhóm công nghệ chính của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với đại diện là công nghệ điện toán đám 15 mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, thực tế ảo.
Cách hiểu theo nghĩa rộng phổ biến hơn. Công nghệ số là quá trình thay đổi từ mô hình truyền thống sang tổ chức số bằng cách áp dụng công nghê mới như: dữ liệu lớn (Big Data), Internet van vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud), chỗi khối. thay đôi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa. Công nghệ số hay còn gọi là chuyển đổi số là khi có dữ liệu được số hóa rồi, chúng ta phải sử dụng các công nghệ như AI, Big Data,.
để phân tích dữ liệu, biến đổi nó và tạo ra một giá trị mới. Có thể hiểu, chuyển đổi số là mức độ cao hơn số hóa, giống như một pha hoàn thiện của số hóa c. Dữ liệu lớn (Big Data) Dữ liệu được sinh ra từ hàng tỷ điện thoại thông minh, thiết bị cảm biến kết nối vạn vật và hoạt động của con người trên môi trường mạng. Mỗi một ngày dữ liệu sinh ra có thé lên đến tương đương dit liệu lưu trữ trong một tỷ đĩa DVD trước đây.
Nếu công nghệ trước kia cần một thời gian rat dai dé xử lý dữ liệu như vậy thì công nghệ số hiện nay cho phép xử lý, phân tích trong khoảng thời gian ngắn hơn rất nhiều để trích rút ra thông tin, tri thức hoặc đưa ra quyết định một cách phù hợp. Nếu công nghệ trước kia xử lý dữ liệu có cấu trúc thì công nghệ số hiện nay chủ yếu xử lý và phân tích dữ liệu phi cau trúc. Dữ liệu phi cấu trúc chiếm tới 70-80%, do vậy, chứa nhiều thông tin hơn đữ liệu có cấu trúc. Có thể ví dữ liệu lớn như bộ não của con người.
Internet vạn vật (IoT) Internet vạn vat (IoT) là một công nghệ nền tảng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nếu như Internet là mạng lưới kết nối các thiết bị như máy tính, điện thoại thông minh. với nhau để trao đổi, chia sẻ dữ liệu, Internet vạn vật là mạng lưới kết nối vạn vật với nhau dé làm việc tương tự. Nhờ có các cảm biên thông minh và kêt nôi mạng, lân đâu tiên trong lịch sử 16 nhân loại, những vật vô tri vô giác, vật dụng gia đình, như chiếc quạt điện, lò vi sóng, hay cành cây, ngọn cỏ “cất tiếng nói” và giao tiếp với nhau và với con người.
Internet vạn vật đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa môi trường thực và môi trường số. Có thé ví Internet vạn vật như là các giác quan cua con người. Điện toán dam may (Cloud) Điện toán đám mây là công nghệ cho phép năng lực tính toán nam ở các máy chủ ảo, gọi là đám mây trên Internet của các nhà cung cấp thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng trên mặt đất, để mọi người kết nối, sử dụng như là dịch vụ khi họ cần. Một cách nôm na, điện toán đám mây cũng giống như điện lưới.
Cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp thay vì đầu tư máy chủ tính toán của riêng mình, giống như máy phát điện, thì sử dụng dịch vụ điện toán đám mây giống như điện lưới, sử dụng đến đâu trả chi phí đến đó mà không phải bận tâm tới việc vận hành, quản lý. Có thể ví điện toán đám mây như là cơ bắp của con người. Chuỗi khối Chuỗi khối, như tên gọi, là một chuỗi dữ liệu phân tán trên mạng, gồm các khối thông tin được liên kết với nhau bằng mã hóa và mở rộng theo thời gian. Vì mã hóa nên bảo mật.
Vì phân tán nên không ai có thể kiểm soát toàn bộ. Vì liên kết nên bat cứ sự sửa đổi nào đều dé lại dấu vét, chống chối bỏ. Vì tất cả yếu tố như vậy nên bảo đảm sự an toàn, tin cậy và minh bạch. Với các đặc điểm như vậy, các giao dịch trong mạng chuỗi khối diễn ra tự động mà không cần bên thứ ba chứng nhận.
Công nghệ chuỗi khối sẽ giảm dần và xóa bỏ vai trò của trung gian trong các giao dịch. Hơn 30 năm qua, chúng ta đã và đang chứng kiến 3 làn sóng công nghệ, mỗi làn sóng kéo dài khoảng 15 năm. + Lan sóng thứ nhất, từ năm 1985 đến năm 1999, gắn với sự phổ biến 17 của máy vi tính, có thé tạm gọi là làn sóng số hóa thông tin, chuyển các tài liệu từ bản giấy sang bản điện tử.