Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn thu trên nền tảng số Chương 2: Thực trạng nguồn thu trên nền tang số của Đài Tiếng nói Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nguồn thu trên nền tảng số của Đài Tiêng nói Việt Nam 18 CHUONG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHÁT TRIEN NGUON THU TREN NEN TANG SO 1.1 Một số khái niệm liên quan chủ đề nghiên cứu 1.1 Khái niệm nguồn thu Tại khoản 2, điều 21 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ nguồn thu của cơ quan báo chí gồm: - Nguồn thu do cơ quan chủ quản báo chí cấp; - Thu từ bán báo, bán quyền xem các sản pham báo chí, quảng cáo, trao đôi, mua bán bản quyền nội dung; - Thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, các đơn vị trực thuộc cơ quan báo chĩ; - Nguồn thu từ tài trợ hợp pháp của tô chức, cá nhân trong nước và ngoai nước. Tại Việt Nam, cơ quan báo chí được xác định là đơn vi sự nghiệp có thu và Chính phủ khuyến khích các cơ quan báo chí tự chủ tài chính, giảm bao cấp, tăng nguồn thu chính đáng. Nguồn thu của cơ quan báo chí có giá trị to lớn không chỉ giúp cho cơ quan báo chí hoạt động tái sản xuất các sản pham báo chí mà còn có giá trị đóng góp vào ngân sách nhà nước, góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân.2 Khái niệm phát triển nguồn thu Ké từ khi báo in ra đời và sau này là nhiều loại hình thông tin đại chúng khác, nguồn thu chủ yếu của báo chí là quảng cáo, chiếm từ 80 đến 100% doanh thu của một cơ quan báo chí. Giá trị của một tờ báo dé đưa ra mức giá quảng cao hay thấp dựa vào số lượng phát hành của báo in, hoặc lượng khán thính giả của phát thanh-truyền hình.
Khoảng 10 năm trở lại đây, các cơ quan báo chí cố gắng sản xuất ra những nội dung chất lượng cao dé thu hút độc giả, khán thính giả, từ đó thu hút các doanh nghiệp đồ tiền quảng cáo. Ngày nay, người dùng xa rời các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống để chạy sang màn hình điện thoại thông minh khiến doanh thu quảng cáo báo in xuống dốc không phanh. Tuy nhiên, xu hướng đưa nội dung thông tin lên internet, đặc biệt là trên hạ tầng (platform) viễn thông di động vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội tạo ra một tương lai mới cho các cơ quan 19 báo chí. Với nhu cầu sử dụng di động ngày càng lớn và đòi hỏi từ sự tăng trưởng 6 ạt của internet thời gian gần đây, các chuyên gia nhận định di động là hướng đi quan trọng dù là xem tin tức, quảng cáo, thương mại điện tử, qua đó việc mua bán nội dung trên di động là thế mạnh và khả thi nhất trong tương lai.
Trong bối cảnh đó, nhiều cơ quan báo chí đang đề ra những kế hoạch mạnh mẽ và quyết liệt dé phát triển nguồn thu. Hoạt động phát triển nguồn thu của các cơ quan báo chí hiện nay có thé được hiểu là sự thay đổi một cách toàn diện của các cơ quan báo chi dé đưa ra những chiến lược kinh doanh cụ thê từ việc thay đổi phương thức sản xuất nội dung, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư công nghệ, nghiên cứu thị trường, công chúng, phát triển kinh doanh.từ đó tăng sức cạnh tranh của cơ quan báo chí, đa dạng hóa nguôn thu, tạo động lực mạnh mẽ dé tìm kiếm nguồn thu mới, gia tăng nguồn thu trên các nền tảng truyền thông cho cơ quan báo chí.3 Khái niệm nền tảng số Theo Quyết định số 186/QD-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông: Nền tảng số là hệ thống thông tin phục vụ các giao dịch điện tử trực tuyến hoạt động theo mô hình sử dụng công nghệ số để tạo môi trường mạng cho phép nhiều bên cùng tham gia dé giao dịch, cung cấp dịch vụ cho các tô chức, cá nhân, có thể sử dụng ngay, đơn giản, thuận tiện, linh hoạt theo yêu cầu, dễ dàng phổ biến trên diện rộng, các bên tham gia không cần tự đầu tư, quản lý, vận hành, duy trì. Nền tang số là “ha tang mém” của không gian số, giải quyết các bài toán cụ thé của chuyền đối số, tạo lập và lưu trữ dir liệu người dùng: càng có nhiều người sử dụng thì dữ liệu càng nhiễu, chi phí càng rẻ, giá trị tạo ra càng lớn.4 Khái niệm nội dung số Nội dung số là khái niệm được nhắc đến ngày càng nhiều trong giai đoạn bùng nỗ công nghệ thông tin như hiện nay.Theo khái niệm của Bộ Thông tin và Truyền thông: công nghệ nội dung số là sự giao thoa giữa 3 lĩnh vực: CNTT, viễn thông và ngành sản xuất nội dung. Công nghệ nội dung số gồm ngành thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ, phân phối, phát hành các sản phẩm nội dung số và dịch vụ liên quan.
Nội dung sô có nhiêu lĩnh vực như: tra cứu thông tin, dữ liệu sô, giải trí 20 số, nội dung giáo dục trực tuyến, học tập điện tử, thư viện và bảo tàng SỐ, phát triển nội dung cho mạng di động, giải trí số (trò chơi trực tuyến, trò chơi tương tác), thương mại điện tử. Theo khái niệm của Marketing, công nghệ nội dung số là sự giao thoa giữa 3 nhóm: IT (Công nghệ thông tin - CNTT), Telecommunication (Viễn thông) và các ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào như văn hóa, thiết kế, giáo dục. theo đó các sản phâm của ngành công nghiệp này là các sản phâm thuộc lĩnh vực CNTT được tạo ra nhằm đáp ứng các nhu cau về nghe, nhìn, trao đôi thông tin dưới dang kỹ thuật số.5 Khái niệm chuyền déi số Chuyên đổi số về tổng thể là quá trình thay đồi toàn diện của các cá nhân và tổ chức về cách sống, làm việc và phương thức sản xuất trên môi trường số với các công nghệ số. Các mô hình và quá trình kinh doanh số sẽ tái cau trúc nền kinh tế nói chung và từng lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội nói riêng, trong đó có lĩnh vực báo chí, truyền thông.
Chuyên đổi số, một mặt vừa là quá trình chuyên đôi ở cấp độ hệ thống nhằm thay đổi hành vi trên quy mô lớn, mặt khác, ở cấp độ doanh nghiệp chuyên đối số có nghĩa là tích hợp các giải pháp số vào tất cả các lĩnh vực của doanh nghiệp, thay đổi sâu sắc phương cách vận hành của doanh nghiệp bằng cách tạo ra các quy trình kinh doanh mới, trải nghiệm khách hàng và văn hóa tổ chức. Nó không chỉ tái tạo lại những phương pháp truyền thống mà còn sáng tạo những phương pháp mới dé đáp ứng những kỳ vọng thay đổi của thị trường. Nói cách khác, chuyên đổi số không chỉ là sự thay đổi trong các giải pháp công nghệ hay quy trình hoạt động của một doanh nghiệp, một chủ thể trên thị trường, mà còn là sự thay đôi về văn hóa, đòi hỏi các chủ thé trên thị trường phải tái tạo lại mô hình tổ chức kinh doanh. Ban chat của chuyên đổi số là sáng tao.
Trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, chuyên đổi số, trước hết chính là việc sử dụng các công cụ, giải pháp công nghệ số để đổi mới mô hình, cách thức tác nghiệp, sản xuất và phân phối nội dung theo hướng tối ưu hóa mô hình tô chức hoạt động của các cơ quan báo chí, truyền thông. Đây chính là hoạt động ứng dụng công 21 nghệ số để làm mới quy trình truyền thống trong sáng tạo và phân phối cũng như hưởng thụ các sản phẩm và dịch vụ báo chí, truyền thông. Để thực hiện bước chuyền này, các đơn vị, chủ thể hoạt động trong lĩnh vực báo chí, truyền thông phải thực hiện số hóa thông tin liên quan đầu vào của hoạt động báo chí, truyền thông và số hóa các quy trình tác nghiệp. Thực chất là chuyên đổi thông tin trên giấy và các quy trình thủ công thành định dạng kỹ thuật số, là sử dụng công cụ kỹ thuật số để tự động hóa và cải thiện cách làm việc hiện tại.
Đây được xem là bước khởi đầu của quá trình chuyển đổi số và hiện nay nhiều cơ quan báo chí, truyền thông ở Việt Nam đã và đang triển khai, góp phần đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, nhất là hoạt động kinh doanh sản pham và dịch vụ báo chí, truyền thông. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở việc đầu tư vào công nghệ để số hóa các chức năng và quá trình hiện tại trong hoạt động báo chí, truyền thông thì không đủ dé chuyển đổi thực sự một đơn vị kinh doanh hay cả một lĩnh vực báo chí, truyền thông. Số hóa dữ liệu và số hóa quy trình là một điều kiện cần cho chuyền đổi số báo chí, truyền thông thành công, nhưng chưa phải là tat cả. Chuyển đổi số đòi hỏi sự thay đổi mang tính cách mạng đối với các quá trình cạnh tranh then chốt của đơn vị kinh doanh.
Chuyển đổi số là việc triển khai một loạt những thay đổi về công nghệ và con người dé tái cau trúc cách thức hoạt động báo chí, truyền thông, từ đó tạo ra những cơ hội và giá tri mới trong hoạt động kinh doanh báo chí, truyền thông. Trên cơ sở dit liệu và quy trình được số hóa từ môi trường diễn ra các hoạt động liên quan báo chí, truyền thông, sử dụng các công nghệ số phân tích, đánh giá, đưa ra các quyết định dé thay đổi căn ban cách thức vận hành, mô hình kinh doanh và cung cấp các giá trị mới cho khách hàng của đơn vị kinh doanh. Nói cách khác chuyền đổi số thường được hiểu theo nghĩa là quá trình thay đổi từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số băng cách áp dụng công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet cho van vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud). dé thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty nhằm tạo những sản phẩm, dịch vụ mới cùng những giá trị và phương thức tiêu dùng mới.
Báo chí, truyền thông là một trong những ngành quan trọng trong hệ thống 22 nền kinh tế quốc dân, một lĩnh vực luôn phản ứng nhạy bén với mọi biến động của đời sống kinh tế-xã hội. Dé thực hiện tốt các chức năng của mình, báo chí, truyền thông không thể nằm ngoài xu thế chuyên đổi số, thậm chí cần đi đầu trong công cuộc chuyên đổi số.6 Khái niệm kinh tế báo chí và vai trò của kinh tế báo chí Theo cuốn “Kinh té báo chi” của PGS.