CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC TỔ CHỨC 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Các khái niệm cơ bản a. Nhân lực Từ nghiên cứu đến lý luận thực tiễn hoạt động kinh tế - xã hội hiện nay cho thấy ở các nước phát triển mặc dù đã có công nghệ hiện đại, các hệ thống thiết bị tiên tiến ngày càng được sử dụng rộng rãi, nhưng con người vẫn là một yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động kinh tế - xã hội của tổ chức.
Đã có nhiều cách khác nhau tiếp cận khái niệm nhân lực. Nhân lực là chỉ sức người, bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, kể cả mặt tài và mặt đức [1, tr. 544] Có ý kiến cho rằng, nhân lực thuần túy là sức mạnh người lao động thể hiện lao động trên cơ bắp, cũng có ý kiến hiểu nhân lực chỉ người lao động trực tiếp bằng sức lực. Từ đó, hiểu nhân lực là toàn bộ đội ngũ người lao động hiện có trong một tổ chức.
Cách đề cập như thế phần nào mới chỉ phản ánh được tính hình thức của vấn đề nhưng hoàn toàn phiến diện và không mang tính tổng quát. Vì vậy, để có cách hiểu đúng và phản ánh rõ bản chất hoạt động lao động của lực lượng nhân viên trong tổ chức, nhân lực phải được xem là tổng hợp các khả năng về thể lực và trí của con người. Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực, trí lực và nhân cách của họ được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất [16, tr.7] Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể; nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… [16, tr. 8] Luan van 10 Trí lực chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người.
Nguồn nhân lực Đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm như sau: Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Theo khái niệm này, nói đến nguồn nhân lực là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh[ 23, tr.
Nguồn nhân lực chỉ mới tồn tại ở khía cạnh con người hiện hữu, chưa toát lên vai trò và sự thích ứng của họ trong tổ chức, từ đó chưa làm cho người lao động đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức. Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Khác với quan niệm trên, ở đây đã xem xét vấn đề ở trạng thái động. 263] Cùng với cách xem xét vấn đề như trên, nguồn nhân lực là tổng thể những yếu tố về thể chất và tinh thần ( phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, học vấn, nghề nghiệp, vị thế xã hội, …) tạo thành năng lực của con người với tư cách chủ thể hoạt động có thể huy động, khai thác để thúc đẩy sự phát triển xã hội, của tổ chức.
Nguồn nhân lực nói lên tiềm năng của con người cả về lượng về chất. Một quan niệm khác về nguồn nhân lực, khi đề cập đến vấn đề này chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh trình độ chuyên môn và kỹ năng của nguồn nhân lực, ít đề Luan van 11 cập đến một cách đầy đủ và rõ ràng đến những đặc trưng khác như thể lực, yếu tố tâm lý – tinh thần… Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động, bao gồm: thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc doanh nghiệp nhất định [23, tr. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn [1, tr. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực có nhiều cách hiều khác nhau, tùy theo mục tiêu về phát triển nguồn nhân lực.
Cách hiểu chung nhất của hệ thống Liên hiệp quốc : Đó là sự phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Cách hiểu của các nhà kinh tế : Thường tập trung nhấn mạnh vào khía cạnh nguồn nhân lực gắn với phát triển sản xuất và chỉ giới hạn sự phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm. UNESCO quan niệm: Phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp trong quan hệ với sự phát triển của đất nước. Theo Cherrington : Giáo dục mang tính chất chung, cung cấp các học viên các kiến thức chung có thể sử dụng vào trong các lĩnh vực khác nhau, đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể.
Còn phát triển liên quan đến việc nâng cao khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện công viêc tốt hơn. Luan van 12 Phát triển nguồn nhân lực là làm cho con người ngày càng phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình. Phát triển nguồn nhân lực là nâng cao giá trị của nguồn nhân lực con người chủ yếu trên các phương diện thể lực, trí tuệ, năng lực, đạo đức, kỹ năng, thẩm mỹ… và phát huy tối đa hiệu quả sử dụng chúng trong thực tiễn phát triển của tổ chức. Cần phát triển cả số lượng lẫn chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong thực tiễn.[23] Phát triển nguồn nhân lực thực chất là tạo ra sự thay đổi đáng kể về chất lượng của nguồn nhân lực theo hướng tiến bộ [23,tr.
Như vậy, Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các cách thức, phương pháp, chính sách và biện pháp hướng đến gia tăng đáng kể chất lượng của nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tổ chức và nhu cầu của người lao động. Nguyên tắc của việc phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực dựa trên các nguyên tắc sau: Thứ nhất : Con người hoàn toàn có năng lực phát triển. Mọi người trong một tổ chức đều có khả năng phát triển và sẽ cố gắng thường xuyên phát triển để giữ vững sự tăng trưởng của tổ chức cũng như cá nhân họ. Thứ hai: Mỗi người đều có giá trị riêng, vì vậy mỗi người là một con người cụ thể khác với những người khác và đều có khả năng đóng góp Thứ ba: Lợi ích của người lao động và những mục tiêu của tổ chức có thể kết hợp với nhau, hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu của tổ chức và lợi ích của người lao động.
Sự phát triển của một tổ chức phụ thuộc vào nguồn lực của tổ chức đó. Khi nhu cầu của người lao động được thừa nhận và đảm bảo thì họ sẽ phấn khởi trong công việc. Vì vậy phát triển nguồn nhân lực phải bao gồm: Luan van 13 - Động viên, khuyến khích mọi thành viên cố gắng tăng cường sự đóng góp của họ cho tổ chức. - Thu hút và sử dụng tốt những người có đủ năng lực và trình độ.
- Đạt được những giá trị lớn nhất, thông qua những sản phẩm của người lao động làm ra để lại những chi phí bỏ ra cho đào tạo và phát triển họ Mặt khác, những mong đợi của người lao động qua đào tạo và phát triển là: ổn định để phát triển; có những cơ hội thăng tiến; được cung cấp những thông tin về đào tạo có liên quan đến họ. Thứ tư : Phát triển nguồn nhân lực là một nguồn đầu tư sinh lời đáng kể, vì phát triển nguồn nhân lực là những phương tiện để đạt được sự phát triển của tổ chức có hiệu quả nhất. Ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là một tất yếu khách quan và có ý nghĩa hết sức to lớn đối với doanh nghiệp, với từng người lao động cũng như đối với toàn xã hội. Đánh giá nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở số lượng người lao động, chất lượng được đào tạo, mà điều quan trọng nhất là phải xem xét hiệu quả sử dụng lao động.
Đối với xã hội Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của một đất nước, nó quyết định sự phát triển của xã hội, là một trong những giải pháp để chống lại thất nghiệp. Đầu tư cho đào tạo và giáo dục là những khoản đầu tư chiến lược chủ chốt cho sự phồn vinh của đất nước Đào tạo và phát triển cho người lao động sẽ đảm bảo cho nguồn nhân lực của xã hội có thể thích ứng và theo sát kịp thời sự tiến bộ và phát triển của khoa học – kỹ thuật và công nghệ, đảm bảo cho xã hội có một lực lượng lao động giỏi hoàn toàn thắng lợi các mục tiêu đề ra. Luan van 14 Những người lao động không học tập và không đào tạo liên tục thì có nguy cơ không theo kịp sự tiến bộ của khoa học – công nghệ đang ngày càng phát triển. Con người ít có cơ hội làm việc nếu như không chuẩn bị cho mình một trình độ chuyên nghiệp nhất định.
Việc đào tạo và đào tạo lại cho phép tránh được thất nghiệp có tính chất cơ cấu. Nhờ có đào tạo tốt mà người lao động sẽ có thêm kiến thức mới, tăng sự hiểu biết thêm về luật pháp, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau; đẩy mạnh phát triển và hợp tác trong xã hội và cũng như trong đoàn thể mà họ tham gia; đóng góp cải thiện được thông tin giữa các nhóm và cá nhân trong xã hội cũng như trong các tổ chức, làm cho xã hội ngày càng tốt hơn, các tổ chức có vị trí hấp dẫn hơn trong lao động và cuộc sống của người lao động ngày càng có ý nghĩa hơn.