phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu của luận văn đƣợc chia thành 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Tổng cục Hải quan. Chƣơng 4: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Tổng cục Hải quan.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỀN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm trở lại đây, đã có nhiều bài viết, tài liệu cũng nhƣ nghiên cứu của Việt Nam và quốc tế viết về phát triển nguồn nhân lực hay bàn về vấn đề nhân sự tại các tổ chức, cơ quan chính phủ. Tuy nhiên, vẫn còn rất ít những công trình chuyên sâu để góp phần khắc họa đầy đủ bức tranh nguồn nhân lực của cơ quan hải quan. Đặc biệt, với Tổng cục Hải quan, đề tài về phát triển nguồn nhân lực còn khá mới mẻ.
Tình hình nghiên cứu nước ngoài Về các nghiên cứu có liên quan tới đề tài luận văn, có thể kể ra một số nghiên cứu tiêu biểu sau: Cuốn sách “Human resource management” (Quản trị nguồn nhân lực) năm 2008 của tác giả John M.Ivancevich cho rằng quản lý nhân sự là cần thiết đối với tất cả tổ chức. Trọng tâm của nó là ngƣời lao động, và ngƣời lao động chính là nhân tố sống còn của các công ty. Các hoạt động quản trị nguồn nhân lực liên quan đến nhiều lao động nên công ty cần phải điều chỉnh những hoạt động về hệ thống máy tính, tiền lƣơng, tuyên bố chiến lƣợc…cần phù hợp và quản lý liên tục để đạt đƣợc những kết quả nhƣ mong muốn.Ivancevich cũng nhấn mạnh đến yếu tố con ngƣời trong các môi trƣờng làm việc và mối quan tâm của nó là làm sao cho nhân sự trong công ty đều cảm thấy hạnh phúc và sung túc. Tuy nhiên, cuốn sách chƣa đƣa ra nhiều giải pháp cụ thể, rõ ràng để nâng cao nguồn nhân lực trong tổ chức.
Tiến sỹ William J.Rothwell trong cuốn sách “Human resource transforation” (Chuyển hóa nguồn nhân lực) năm 2008 khẳng định những đòi hỏi với nguồn nhân lực đang thay đổi. Do vậy, mỗi tổ chức và lãnh đạo phải xác 4 định nỗ lực thay đổi nguồn nhân lực có nghĩa gì với họ, tại sao họ muốn thực hiện chuyển hóa nguồn nhân lực và mong muốn thu đƣợc kết quả gì. Mặc dù vậy, tác giả cũng không đƣa ra nhiều biện pháp cụ thể để nâng cao, phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức mà yêu cầu nhiệm vụ này phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của lãnh đạo và năng lực của các chuyên gia nguồn nhân lực. Hai chuyên gia tƣ vấn của Ngân hàng Thế giới World Bank là Luc De Wulf và Jose B.Sokol đã hoàn thành “Customs Modernization Handbook” (Sổ tay hiện đại hóa hải quan) vào năm 2005.
Nhóm nghiên cứu khẳng định mỗi cơ quan hải quan phải điều chỉnh các nỗ lực hiện đại hoa cho phù hợp với mục tiêu, năng lực thực hiện và nguồn lực sẵn có của đất nƣớc mình. Về vấn đề tổ chức và nguồn nhân lực hải quan, Luc De Wulf và Jose B. Sokol đề cập đến phƣơng pháp quản lý nguồn nhân lực hiện đại trong môi trƣờng hải quan và giới thiệu những vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức hải quan truyền thống. Quy trình quản lý nguồn nhân lực hải quan có thể phân tách thành nhiều giai đoạn: xác định các tiêu chí cần có; xây dựng quy trình tuyển dụng; đào tạo cán bộ đƣơng nhiệm; chế độ đãi ngộ; áp dụng các hình thức xử phạt.
Cơ quan hải quan cũng thƣờng phải vật lộn để tìm ra mô hình tổ chức lý tƣởng (cơ cấu nội bộ, sát nhập với các cơ quan thu thuế khác. Tuy mô hình cụ thể chƣa đƣợc nêu rõ nhƣng đây là tài liệu đƣợc nhiều cơ quan hải quan các nƣớc sử dụng và tham khảo khi triển khai thực hiện cải cách hiện đại hóa hải quan, trong đó có Hải quan Việt Nam. Báo cáo “Report on the 5th Session of the Capacity Building Committee: Strong People – Strong Organization” tại Hội nghị thƣờng niên lần thứ 5 của Ủy ban xây dựng năng lực của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) tại Brussels, Vƣơng quốc Bỉ (từ ngày 31/3-02/4/2015) đã nêu ra nhiều vấn đề quan trọng, định hƣớng cho công tác hiện đại hóa nói chung và công tác xây dựng năng lực hải quan nói riêng. Theo báo cáo, phát triển nguồn 5 nhân lực hải quan nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp của cơ quan hải quan.
Muốn vậy, cơ quan hải quan cần xây dựng khung năng lực hải quan và quan tâm tới sự phát triển trong các lĩnh vực chuyên môn. Báo cáo khuyến nghị về khung năng lực gồm (i) Năng lực cốt lõi; (ii) Năng lực chuyên ngành hải quan; (iii) Năng lực thực thi; (iv) Năng lực quản lý. Đây là những cơ sở quan trọng để Tổng cục Hải quan định hƣớng các hoạt động quan trọng thời gian tới về công tác cải cách, hiện đại hóa và quản lý nguồn nhân lực. Tình hình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, có nhiều giáo trình tài liệu về quản trị nguồn nhân lực của các trƣờng đại học nhƣ: Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Lao động xã hội, Đại học Kinh tế TP.
Hồ Chí Minh… Các giáo trình này cung cấp những khái niệm, kiến thức cơ bản về nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức. Về sách tham khảo, học viên nghiên cứu và tham khảo một số tác phẩm, đề tài nghiên cứu về công tác quản lý nhân sự về hải quan. Tuy nhiên, những công trình tiêu biểu nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực của ngành Hải quan chƣa nhiều. Trong cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” do PGS.
Vũ Văn Phúc và TS. Nguyễn Duy Hùng chủ biên (nguyên Phó Thủ tƣớng Vũ Khoan đồng tác giả) năm 2012, đã trình bày những tƣ tƣởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng về phát triển nguồn nhân lực và đề xuất giải pháp của phát triển nguồn nhân lực nói chung của nƣớc ta hiện nay. Trong nguồn lực con ngƣời, đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo là lực lƣợng quan trọng, lực lƣợng đi đầu trong tham mƣu, đề xuất và lãnh đạo tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nƣớc. Tuy nhiên đội ngũ cán bộ quản lý nhà nƣớc vẫn còn không ít hạn chế cần khắc phục.
Do đó, cần nâng cao năng lực tham mƣu, đề 6 xuất về chủ trƣơng đƣờng lối, chính sách, thực hiện công tác giám sát, kiểm tra hiệu quả và phát hiện, đào tạo, bồi dƣỡng thế hệ cán bộ kề cận tiếp theo. Luận án Tiến sỹ Kinh tế “Tiếp tục cải cách, hiện đại hóa hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2007 của ông Nguyễn Ngọc Túc – Tổng cục trƣởng Tổng cục Hải quan Việt Nam nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động cải cách hiện đại hóa của ngành Hải quan. Tác giả cũng đề cập tới nội dung tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực của ngành, trong đó đánh giá sơ bộ thực trạng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, thực hiện liêm chính hải quan. Tuy nhiên đây là một nội dung nhỏ trong tổng thể chƣơng trình cải cách hiện đại hóa của ngành Hải quan.
Do vậy những phân tích đánh giá của tác giả chƣa chuyên sâu vào công tác phát triển nguồn nhân lực tại Tổng cục Hải quan. Đề tài khoa học cấp Ngành năm 2013 của Tổng cục Hải quan “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng mô hình hải quan vùng” do Tiến sỹ Nguyễn Duy Thông – Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ - Tổng cục Hải quan làm chủ nhiệm đề tài chỉ rõ việc cơ cấu lại tổ chức cơ quan hải quan hiện nay theo mô hình cơ cấu Hải quan Vùng vừa mang tính cấp bách, khách quan, vừa để tạo tiền đề thúc đẩy quá trình cải cách, hiện đại hóa, tập trung có trọng tâm, trọng điểm và chuẩn bị nhân sự cho lâu dài với yêu cầu cao hơn. Nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình hải quan vùng của Hải quan Việt Nam với từng nguyên tắc và tiêu chí xác định thành lập tƣơng ứng. Theo đó, sẽ thành lập một số Hải quan vùng (Vùng 1, Vùng 2, Vùng 3, Vùng 4…), mỗi vùng quản lý một số địa bàn cụ thể (tỉnh, liên tỉnh hoặc thành phố).
Tác giả khẳng định hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ của ngành là yếu tố quyết định hiệu quả và chất lƣợng công tác hải quan. Đây là một hƣớng nghiên cứu đề xuất đang đƣợc quan tâm trong công tác tổ chức cán bộ của Ngành Hải quan. 7 Bài viết “Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực hải quan” trên Tạp chí Tài chính Việt Nam, số tháng 4 năm 2015 của Thạc sỹ Huỳnh Thanh Bình – Phó Cục trƣởng Cục Hải quan Đồng Nai, đề cập đến những nhân tố đóng góp vào sự thúc đẩy cải cách chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng trong ngành Hải quan. Đó là các yêu cầu của công việc hải quan trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới và yêu cầu cải cách, đổi mới thủ tục hành chính trong lĩnh vực công.
Theo tác giả, trong điều kiện công việc với khối lƣợng và quy mô ngày càng tăng, biên chế bổ sung cho ngành và các đơn vị hải quan rất hạn chế, chỉ có đào tạo và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực theo hƣớng minh bạch, chuyên nghiệp, chuyên sâu mới có thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ đƣợc giao của ngành Hải quan. Đây là những gợi ý định hƣớng hữu ích cho nghiên cứu luận văn của học viên. Tuy nhiên, hạn chế trong khuôn khổ của một bài viết nên tác giả chƣa có những phân tích, đánh giá chuyên sâu rõ hơn về vấn đề này. Các nghiên cứu, luận văn, luận án… về công tác quản trị nguồn nhân lực của Tổng cục Hải quan gần đây cũng đã sơ bộ đánh giá thực trạng hoạt động quản trị nguồn nhân lực hải quan tại các đơn vị thuộc cấp Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh thành phố.
Do vậy, các giải pháp, định hƣớng phát triển nguồn nhân lực đƣợc đƣa ra cũng chỉ có thể áp dụng tại các đơn vị cụ thể đó, chƣa mang tính khái quát đối với Tổng cục Hải quan. Nói tóm lại, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trƣớc đây bàn về vấn đề phát triển nguồn nhân lực, với nhiều ý tƣởng hay có thể kế thừa.