CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Chương này tác giả trình bày các khái niệm, lý thuyết về phát triển NNL làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng ở chương 2 của luận văn. Các lý thuyết được trình bày theo quan điểm đánh giá của từng tác giả, từng nghiên cứu và tác giả chắt lọc, kế thừa lý thuyết, khái niệm để phục vụ cho nghiên cứu. Khái niệm nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2016) định nghĩa nguồn nhân lực được hiểu là sự gắn kết với nhau, có những vai trò khác nhau được hình thành từ cá nhân, có chung những mục tiêu nhất định. Hay với Huỳnh Thị Thu Sương (2017) thì nguồn nhân lực là “nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh.
Trước hết với tư cách là nguồn lực cung cấp sức lao động cho xã hội. Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương ứng với nguồn lao động”. Bên cạnh đó, thì nguồn nhân lực được hiểu là giữa kiến thức và những kỹ năng kết hợp với khả năng và đặt dưới sự kiểm soát của công ty, doanh nghiệp, tổ chức các mối quan hệ này thể hiện dưới hành vi của cá nhân, được đặt ở những mối quan hệ trực tiếp với nhau và những khả năng với mục đích là phù hợp với mục tiêu của tổ chức (Wright et al.
Ngoài ra, nguồn nhân lực còn được biết sự kết hợp từ các các phẩm chất đạo đức, năng lực, thể lực và trí lực, những tổng thể về chất lượng và số lượng cùng với các tiêu chí hoạt động của con người được huy động vào quá trình phát triển lao động trong thời buổi kinh tế xã hội tiến bộ hiện nay. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là trong quá trình hoạt động, thì sẽ được tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định nào đó để có thể thay đổi được hành vi nghề nghiệp của người lao động, những hoạt động trong tổ chức đều được thực hiện, theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2014). Đối với Bùi Văn Nhơn (2006), để có thể phát triển được nguồn nhân lực thì cần nâng cao về các chất lượng, phẩm chất, trí tuệ áp dụng các biện pháp, phương pháp chính sách cụ để có thể khắc phục nâng cao việc phát triển nguồn nhân lực ở từng giai đoạn phát triển cụ thể khác nhau trong nền kinh tế xã hội hiện nay. Còn Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) thì định nghĩa phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển về thể lực, trí lực cùng với khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức nâng cao tay nghề, trong xã hội hiện nay việc kết hợp giữa tính năng động và sáng tạo của con người với nhau.
Nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực hiện nay thì được hiểu là quá trình số lượng tăng lên về mặt (quy mô) xây dựng, phát triển tăng nguồn nhân lực và đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Với cá nhân thì phát triển nguồn nhân lực được hiểu là đây là một quá trình để phát triển con người, đào tạo để có thể thay đổi nâng cao trí lực, thể lực và những tính năng xã hội khác. Ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực - Đối với nhân viên Hỗ trợ tốt cho nhân viên trong công việc thường ngày, nhất là khi nhân viên không đủ năng lực đáp ứng vị trí công việc hiện tại hoặc khi nhân viên tiếp nhận công việc mới. Xây dựng cách nhìn nhận và tư duy cho người lao động ở trong công việc, là nền tảng để họ phát huy tính sáng tạo trong công việc.
Nhằm nâng cao được nguồn nhân lực, duy trì được chất lượng nguồn nhân lực. 10 Người lao động được đào tạo họ có khả năng tự giám sát công việc, giảm bớt được sự giám sát (Nguyễn Minh Đường, 2002). Trong môi trường làm việc đối với những nhân viên mới thì gặp không ít những khó khăn từ việc hướng dẫn, tiếp xúc gần với công việc, có những phương án cụ thể để có thể giúp người mới có thể tiếp xúc, thích ứng công việc một cách nhanh chóng ở những môi trường làm việc khác nhau của tổ chức (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2009). - Đối với tổ chức Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Khánh (2009) nhằm mục đích để có thể thích ứng và đáp ứng nhu cầu công việc và sự tồn tại phát triển của một tổ chức.
Hoạt động phát triển nguồn nhân lực giúp tổ chức giữ vững vị trí hiện tại phát triển trong tương lai, đẩy mạnh năng lực cạnh tranh cũng như nâng cao tính ổn định, năng động. Khi muốn phát triển nguồn nhân lực thì tổ chức sẽ phải cải thiện, nâng cao hơn nữa về các thiết bị máy móc, và phương tiện kỹ thuật. Nhằm có thể đáp ứng nhu cầu, nâng cao và áp dụng các quản lý và khoa học kỹ thuật vào trong tổ chức. Trong thực tế thì phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò tiên quyết để một tổ chức thể cạnh tranh phát triển, ngày một thăng tiến, việc phát triển nguồn nhân lực nếu tận dụng tốt sẽ mang đến nhiều lợi ích cho tổ chức.
Trình độ chuyên môn, tay nghề của người lao động, nhân viên được nâng cao, gia tăng năng suất và hiệu quả trong công việc. Giảm được chi phí cho việc giám sát quá trình lao động, bản thân người được tham gia vào quá trình phát triển nhân lực sẽ tự giám sát công việc của bản thân do hiểu rõ về quy trình làm việc và đủ năng lực tự chủ trong công việc. Các rủi ro phát sinh trong quá trình lao động cũng sẽ được giảm thiểu do người lao động có nghiệp vụ tốt và có thái độ tốt. Duy trì sự ổn định và năng lực phát triển của tổ chức 11 Nói tóm lại, phát triển nguồn nhân lực góp phần không nhỏ để giải quyết các vấn đề hiện nay của nhà quản trị, những xung đột, mâu thuẫn nguồn nhân lực giữa các nhà quản lý và cá nhân với nhau, bên cạnh đó thì cũng đưa ra được các biện pháp, các chính sách cụ thể để có thể quản lý được nguồn nhân lực một cách tốt nhất và đạt hiệu quả cao (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2009).
Phát triển nguồn nhân lực 1. Đánh giá nguồn nhân lực hiện có và tổ chức quản lý Để thực hiện hiệu quả việc hoạch định và triển khai thực hiện phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp càng phải thực hiện việc đánh giá nguồn nhân lực hiện có, thực trạng đối với công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực. Nội dung đánh giá bao gồm: phân tích, đánh giá về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực hiện có; xem xét về tổ chức bộ máy và quản lý phát triển nguồn nhân lực. Nội dung đánh giá này hết sức cần thiết cho việc phát triển nguồn nhân lực, làm cơ sở để xác định yêu cầu, mục tiêu và phương hướng phát triển nguồn nhân lực.
Thông qua phân tích và dữ liệu về nguồn nhân lực của tổ chức, quản lý, dựa vào đây có thể xây dựng các chiến lược, hoạch định cơ chế nhằm phát triển, phát huy được nguồn nhân lực trong tổ chức (Huỳnh Thị Thu Sương, 2017). Hoạch định phát triển nguồn nhân lực Theo Huỳnh Thị Thu Sương (2017), để đạt được kết quả trong sản xuất cần xác định được kế hoạch, phương án phát triển, mục tiêu đặt ra để có thể thực hiện được, cần phải tập trung vào nguồn nhân lực hoạch định và phát triển nguồn nhân lực trước. Đầu tiên ta cần xác định được cơ cấu, số lượng nguồn nhân lực thì sau đó mới thực hiện được hoạch định phát triển nguồn nhân lực cho từng giai đoạn. Khi hoạch định nguồn nhân lực thì cần xác định được trong tương lai nguồn nhân lực yêu cầu về các năng lực của từng vị trí công tác.
Khi thực hiện hoạch định cơ chế, chiến lược và những chính sách nguồn nhân lực thì cần phải xây dựng các kế hoạch, chiến lược, phương án cho phù hợp với các tổ chức. 12 Cơ sở hoạch định phát triển nguồn nhân lực bao gồm các nội dung: Chiến lược và kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh của tổ chức; phương hướng, điều kiện phát triển của kinh tế-xã hội, của lĩnh vực liên quan và ngành nghề mà tổ chức đang hoạt động; kết quả đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và tổ chức quản lý phát triển nguồn nhân lực của tổ chức. Tiến hành hoạch định phát triển nguồn nhân lực bao gồm các vấn đề dưới đây: - Hoạch định về số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực: trên nền tảng cơ sở chiến lược, kế hoạch, phát triển sản xuất kinh doanh của tổ chức và tình hình phát triển ngành, lĩnh vực liên quan dự báo được số lượng nhân lực cần thiết theo cơ cấu hợp lý. Thực hiện cơ cấu nguồn nhân lực khi được đánh giá phù hợp đáp ứng được trong quá trình sản xuất kinh doanh trình độ quản lý, trình độ tổ chức thì lúc đó cơ cấu nguồn nhân lực mới được xem là hợp lý.
Để biết được mức độ phù hợp phải xem xét ở các mức độ khác nhau, mỗi công đoạn, sử dụng lao động, năng suất trong sản xuất đạt được. Ở đây ta đánh giá được năng suất lao động đạt được và có thể dự đoán được mức tăng của từng công đoạn trong sản xuất ở từng lĩnh vực hoạt động khác nhau của tổ chức, từ đó ta biết được mức sử dụng năng suất lao động từng khâu của tổ chức. - Hoạch định về chất lượng nguồn nhân lực: trước tiên cần xem trong hoạt động tổ chức cần có những mục tiêu và phương án định hướng cụ thể. Về chất lượng nguồn nhân lực thì cần đưa ra được trong giai đoạn thực hiện thì chất lượng nguồn nhân lực cần đạt được những yêu cầu nào cần thiết, thể hiện những yêu cầu đạt được thể hiện ở mức năng lực thực hiện nhiệm vụ của từng vị trí trong công tác.
Giữa hoạch định nguồn nhân lực và hoạch định phát triển nguồn nhân lực hai cái này có điều đặc trưng với hoạch định nhân lực thì chỉ quan tâm đến số lượng lao động. Dựa vào những hoạt động trên thì ta thấy được các chất lượng, cơ cấu và số lượng những điều này là cần thiết cho hoạch định dự báo và nó cũng là yếu tố để phát triển năng lực cần có để có thể phục vụ tốt cho các phát triển của tổ chức.