CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Việc làm Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật. Người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật”.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 9, Chương II của Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [4]. Việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: hoạt động lao động; hoạt động tạo ra thu nhập và hoạt động này phải hợp pháp, cụ thể: thứ nhất, nó phải là hoạt động lao động, thể hiện sự tác động của sự lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ; thứ hai, hoạt động đó phải tạo ra thu nhập; thứ ba, hoạt động này phải hợp pháp, tức là các hoạt động lao động tạo ra thu nhập phải được pháp luật thừa nhận. Do đó, tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng quốc gia mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động. Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức: Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó.
Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc e 10 đó.Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Trong nghiên cứu, luận văn sử dụng khái niệm “việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm”. Lao động và lao động nông thôn Lao động được hiểu là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người.
Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế. Theo Mác: “Lao động là quá trình diễn ra giữa con người và giới tự nhiên, là quá trình trong đó bằng hoạt động của mình con người làm trung gian và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”. Trong quá trình lao động, con người phải sử dụng công cụ, thiết bị để tác động nhằm biến đổi tự nhiên thành những vật thể nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.
Khi nói đến lao động không thể nói đến sức lao động, sức lao động là toàn bộ thể chất và tinh thần của con người tồn tại trong một cơ thể, trong một người đang sống và được con người đó đem ra sử dụng mỗi khi sản xuất một giá trị sử dụng nào đó. Lao động chính là việc sử dụng sức lao động, quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động. Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội.
e 11 Nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi quốc gia vì điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau. Để có được khái niệm về nông thôn, người ta thường so sánh thành thị và nông thôn. Trong khi so sánh, có quan điểm dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư, có quan điểm dùng chỉ tiêu trình độ phát triển sản xuất kết cấu hạ tầng để phân biệt thành thị và nông thôn hoặc chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hóa, tiếp cận thị trường để phân biệt thành thị và nông thôn và điều này phụ thuộc vào cơ chế của mỗi nước. Nông thôn được xem xét là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn.
Tuy nhiên, khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước. Nông thôn được hiểu là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là nông dân. Là vùng sản xuất mà nông nghiệp là cơ bản, ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất và phi sản xuất khác. Theo quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đã nêu “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã” [11].
Như vậy có thể hiểu, LĐNT là những người lao động không phân biệt giới tính, sinh sống ở khu vực nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, tham gia hoạt động sản xuất tại khu vực nông thôn. Trong đó, bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật Lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất. LĐNT có những đặc điểm cơ bản sau: - LĐNT rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi. Phần lớn lực lượng lao động e 12 tập trung ở khu vực nông thôn, phân bổ ở nhiều nhóm tuổi khác nhau.
- Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật đa số còn hạn chế, mức độ tiếp cận thị trường chưa cao. Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động. - LĐNT phần lớn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi và thiếu năng động. Đây là yếu tố được đánh giá là một trong những bước cản lớn trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, ngành nghề ở khu vực nông thôn.
Trên cơ sở các phân tích trên, luận văn sử dụng khái niệm: Lao động nông thôn là một bộ phận dân số nông thôn trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có việc làm, tự làm hoặc những người thất nghiệp có nhu cầu làm việc, trong hệ thống các ngành kinh tế nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ… tại khu vực nông thôn (ngoại trừ những người là công chức, viên chức của các cơ quan, ban, ngành, các Tổ chức Chính trị - Xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập…, người thuộc lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước). Điều kiện làm việc cho lao động nông thôn Điều kiện làm việc cho lao động khu vực nông thôn còn hạn chế do phụ thuộc vào tính chất việc làm ở khu vực nông thôn. Việc làm ở khu vực nông thôn mang tính chất thời vụ cao, sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các quy luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất đai…). Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều.
Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn. Việc làm ở nông thôn đa số là những công việc thủ công, đơn giản, ít đòi hỏi tay nghề cao. Có một số lượng khá lớn công việc tại nhà không định thời gian: trông nhà, trông con, nội trợ, làm vườn…Những công việc này tốn nhiều thời gian và công sức cho người lao động, thu nhập thấp thậm chí là không có thu nhập. e 13 Các hoạt động sản xuất ở khu vực nông thôn thường bắt nguồn từ kinh tế hộ gia đình là chủ yếu.
Vì vậy, việc làm ở nông thôn đồng nghĩa cũng gắn liền với năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất của hộ gia đình. Trong đó, việc chú trọng thúc đẩy phát triển các loại hình hoạt động kinh tế khác nhau của kinh tế hộ gia đình là một trong những biện pháp tạo việc làm có hiệu quả. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi để đạt giá trị kinh tế cao trên mỗi đơn vị diện tích theo hướng thu dụng nhiều lao động là biện pháp tạo nên nhiều việc làm tại chỗ ngay trong sản xuất nông nghiệp. Hoạt động của dịch vụ nông thôn là khu vực đã thu hút đáng kể LĐNT nói bởi hoạt động dịch vụ tạo ra thu nhập cao, ổn định.
Hoạt động này có tính thương mại cao, tạo ra nguồn thu nhập đa dạng ở nhiều lĩnh vực và được nhiều người lựa chọn để thay thế công việc truyền thống và có thu nhập thấp. Gần đây, xu hướng đầu tư các Khu công nghiệp về khu vực nông thôn đã tạo ra nhiều thay đổi trong vấn đề việc làm cho lao động nông thôn, điều kiện lao động của một bộ phận lao động nông thôn đã được cải thiện hơn. Nhìn chung, sự khác nhau về cơ hội kiếm sống và hưởng thụ điều kiện sống giữa thành thị và nông thôn được coi là sự chênh lệch thành thị - nông thôn. Sự chênh lệch này đã có tác động mạnh mẽ đến người dân nông thôn, họ luôn luôn so sánh điều kiện sống của họ với những thuận lợi đầy đủ mà người dân thành thị được hưởng thụ.
Điều đó thúc đẩy người dân nông thôn, đặc biệt là lớp thanh niên trẻ và những người có học muốn vươn ra thành phố để tồn kiếm cơ hội tốt hơn cho cuộc sống.