Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dược Trung ương Mediplantex. Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dược Trung ương Mediplantex. Luan van 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm 1. Nguồn Nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực” như: Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012): “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực” [4, Tr. Theo Trần Xuân Hải và Trần Đức Lộc (2013): “Nguồn nhân lực là số lượng người trong độ tuổi lao động sẵn sàng tham gia lao động.
Chất lượng nguồn nhân lực (bao gồm: trình độ, kiến thức, thể chất, kĩ năng, thái độ làm việc,.) được phản ánh thông qua năng lực xã hội của con người”. Nó thể hiện tiềm năng lao động phù hợp với chiến lược phát triển ở mỗi nước trong từng thời kì và là bộ phận quan trọng nhất của quy mô dân số, có khả năng cung cấp sức lao động tới tất cả các lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế quốc dân [8, Tr. Theo Vũ Hoàng Ngân và Phạm Thị Bích Ngọc (2013) khái niệm nguồn nhân lực được xem xét trong mối quan hệ tổng thể giữa ba loại nguồn nhân lực trong một tổ chức bao gồm: nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính và nguồn lực con người. Theo đó: “Nguồn lực con người hay còn gọi là nguồn nhân lực bao gồm tất cả con người làm việc trong một tổ chức” [14].
Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn như sau: “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực. Nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp” [13, Tr. Một cách khái quát, nhân lực được hiểu trên 2 góc độ: Luan van 7 Dưới góc độ cá nhân: Nhân lực là nguồn lực con người được cấu thành bởi thể lực, trí lực và phẩm chất nghề nghiệp. Dưới góc độ tổ chức/xã hội: Nhân lực trong tổ chức là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, tùy theo cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau của mỗi tác giả mà có quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu một số quan niệm như sau: Có nhiều cách tiếp cận khái niệm nhân lực/nguồn nhân lực. Theo Trần Xuân Hải và Trần Đức Lộc: “Nguồn nhân lực là số lượng người trong độ tuổi lao động sẵn sàng tham gia lao động. Chất lượng nguồn nhân lực (bao gồm: trình độ, kiến thức, thể chất, kĩ năng, thái độ làm việc, .) được phản ánh thông qua năng lực xã hội của con người”.
Nó thể hiện tiềm năng lao động phù hợp với chiến lược phát triển ở mỗi nước trong từng thời kì và là bộ phận quan trọng nhất của quy mô dân số, có khả năng cung cấp sức lao động tới tất cả các lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế quốc dân [8, Tr. Từ những khái niệm trên ta có thể thấy: Thứ nhất, nhân lực của doanh nghiệp, bao gồm toàn bộ những con người làm cho doanh nghiệp đó, được doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả công. Thứ hai, nhân lực là một nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp cần được đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả. Thứ ba, nguồn lực của mỗi con người bao gồm thể lực, trí lực và phẩm chất nghề nghiệp.
Thể lực là sức khỏe của cơ thể con người ví dụ như chiều cao, cân nặng, sức bền. Trí lực là năng lực trí tuệ của con người thể hiện qua học vấn, kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và ý thức, thái độ của con người trong công việc. Trí lực của con người có tính chất quyết định đến việc sử dụng thể lực của họ trong quá trình làm việc. Doanh nghiệp cần quan tâm đến các yếu tố này nhằm duy trì và phát triển cả thể lực và trí lực của mỗi Luan van 8 con người trong doanh nghiệp.
Thứ tư, khi xem xét nguồn nhân lực, doanh nghiệp quan tâm đến các khía cạnh về số lượng/quy mô của nhân lực, chất lượng và cơ cấu nhân lực so với nhu cầu sử dụng. - Số lượng/quy mô nguồn nhân lực thể hiện qua số lượng lao động trong tổ chức. Số lượng lao động trong doanh nghiệp cần đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp để thực hiện những mục tiêu đã đề ra. - Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp.
Để có đội ngũ nhân lực đảm bảo chất lượng, doanh nghiệp cần xác định rõ những yêu cầu về năng lực đối với nhân lực ở từng vị trí, chức danh công việc. Năng lực của nhân lực được thể hiện ở trình độ học vấn/giáo dục, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, phẩm chất/thái độ, thể chất, tình trạng sức khỏe. Năng lực của đội ngũ lao động chính là một yếu tố thuộc năng lực cốt lõi của doanh nghiệp. Năng lực cốt lõi có thể hiểu là khả năng làm tốt nhất một việc theo một phương thức nào đó.
Nói cách khác năng lực cốt lõi chính là sở trường, thế mạnh của doanh nghiệp. Năng lực cốt lõi là một lợi thế cạnh tranh mang tính chất nền tảng vì nó rất khó bị các đối thủ sao chép nhằm gây ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Cơ cấu nhân lực là cơ cấu tỷ lệ các loại lao động có thể được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau như giới tính, độ tuổi, chuyên môn, bậc trình độ. cơ cấu nhân lực cần phải phù hợp với nhu cầu về chuyên môn, bậc trình độ, độ tuổi.
Thứ năm, quan điểm của quản trị nhân lực hiện đại coi nhân lực của doanh nghiệp chính là vốn nhân lực. Đó là tập hợp năng lực (kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng mà mỗi con người tích lũy được. Muốn có vốn nhân lực, gia đình (trong đó có bản thân mỗi người) và xã hội phải đầu tư, vốn đó sẽ giúp con người tăng thu nhập và góp phần làm giàu cho xã hội. Còn với doanh nghiệp cần đầu tư cho đào tạo để nâng cao chất lượng nhân lực cho doanh Luan van 9 nghiệp mình, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động.
Con người có thể đầu tư cho chính bản thân mình, thông qua việc chi tiêu cho giáo dục và đào tạo với kì vọng có thu nhập lớn hơn trong tương lai. Xét riêng về nhân lực trong doanh nghiệp, do đặc trưng là một doanh nghiệp kinh tế đặc biệt với mức độ rủi ro cao cùng sức ảnh hưởng có tính dây chuyền tới sức khỏe tài chính của nhiều doanh nghiệp khác cũng như sức khỏe của cả nền kinh tế, chịu sự giám sát chặt chẽ bởi các thiết chế Nhà nước, ngoài việc thỏa mãn các đặc điểm chung trên, nhân lực trong doanh nghiệp thường có những đòi hỏi khắt khe hơn. Nhân lực của doanh nghiệp thường lấy tiêu chí chất lượng cao làm nòng cốt, đề cao sự cẩn thận, tỉ mỉ chính xác và sự phối hợp đồng đều, chặt chẽ của toàn bộ hệ thống. Các doanh nghiệp cần những tầm nhìn dài hạn về nhân lực để đảm bảo tốt yêu cầu hoạt động liên tục, không bị ngắt quãng, nhân lực cần có tính kế thừa.
Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Theo Vũ Hoàng Ngân và Phạm Thị Bích Ngọc :“Phát triển nguồn nhân lực là sự hợp nhất giữa đào tạo và phát triển, phát triển sự nghiệp và phát triển tổ chức để nâng cao hiệu quả của cá nhân và tổ chức [14, Tr.12] Còn theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được hiểu là quá trình cung cấp kiến thức, hoàn thiện kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động để họ có thể thực hiện tốt công việc hiện tại và tương lai” [13, Tr. Như vậy, xét từ góc độ phát triển cá nhân, sự phát triển sẽ không thể nào có được nếu con người không tham gia vào hoạt động đào tạo về các kỹ năng và kiên thức mới nhằm cải thiện khả năng lao động của họ. Điều này có thể đạt được nhờ vào kinh nghiệm lao động hằng ngày nhưng sẽ mất nhiều thời gian và không có sự đảm bảo về kết quả đạt được thậm chí có thể dẫn tới sự phát triển thiếu hụt hoặc không phù hợp với các kiến thức, kỹ năng và Luan van 10 hành vi.
Phát triển nguồn nhân lực hướng tới các hoạt động đào tạo mang tính hệ thống, định hướng tới từng cá nhân nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và cải thiện hành vi… Xét từ góc độ phát triển nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp, phát triển con người nhằm hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động vì lợi ích của doanh nghiệp, hiệu suất cao hơn, khả năng cạnh tranh tốt hơn và lợi nhuận lớn hơn. Sự phát triển sẽ không diễn ra nếu môi trường làm việc và hệ thống các công cụ tạo động lực không có sự thay đổi để nâng cao hiệu suất lao động cũng như tạo ra các nền tảng ban đầu cho sự phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, nếu chỉ nâng cao năng lực của người lao động cũng như cải thiện hành vi của họ thì chưa đủ, mà điểm đến cuối cùng phải là cải thiện năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Có như vậy mới đạt mục tiêu của phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cần quan tâm đến số lượng. Ngoài những nỗ lực phát triển kiến thức, kỹ năng, hành vi của nhân sự đang làm việc trong doanh nghiệp còn cần chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực thông qua tuyển dụng.