CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÂN HÀNG 1.1 Khái quát về nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Trong đánh giá về những tác đọng của toàn cầu hóa đến nguồn nhân lực, Liên Hiệp Quốc cho rằng nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực của toàn bộ con người đang có hiện tại hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế, xã hội của cộng đồng (2009). Nguồn nhân lực của mọt tổ chức cũng được hiểu là tất cả các tiềm nang của con nguời trong mọt tổ chức (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo tổ chức) sử dụng kiến thức, khả nang, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lạ p, duy trì và phát triển tổ chức (George Milkovich và John Boudreau, 2007). Như vậy, nguồn nhân lực đuợc coi nhu là sức mạnh tổng hợp từ sức mạnh của các loại lao đọng và từ khả nang lao đọng của từng cá nhân trong tổ chức bao gồm gồm sức khỏe, trình đọ, sự hiểu biết, kinh nghiẹm, lòng tin, nhân cách… Cùng với sự gia tang của hàm luợng chất xám trong sản phẩm dịch vụ, vai trò của con nguời ngày càng trở nên quan trọng và trở thành nguồn lực quan trọng nhất trong sự phát triển của mọt quốc gia nói chung và của từng tổ chức nói riêng. Chính bởi nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhu vạy nên phát triển nguồn nhân lực có thể cung cấp cho các nhà quản lý những công cụ họ cần để quản lý và phát triển tổ chức.2 Phân loại nguồn nhân lực Nguồn nhân lực trong dân cư ở độ tuổi lao động, có khả năng và nhu cầu lao động được phân loại theo mức độ tham gia làm việc trong thị trường lao động.
Trong đó, lực lượng lao động là nguồn nhân lực tham gia làm việc trong thị trường lao động và nguồn nhân lực dự trữ là những người trong độ tuổi lao động nhưng c 7 không có nhu cầu hay không tham gia lao động có ký kết hợp đồng (bà nội trợ, người thất nghiệp…). Ngoài ra, phân loại nguồn nhân lực cũng dựa theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động như lao động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay công việc dịch vụ. Theo cách phân loại này, nguồn lao động được chia thành 2 nhóm bao gồm: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định và tiếp tục được phân loại theo nội dung công việc (lao động chính, lao động phụ trợ, lao động của các hoạt động khác) hoặc theo năng lực và trình độ chuyên môn (lao động tay nghề cao, lao động có tay nghề trung bình).
Lao động gián tiếp gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp và cũng được phân loại cụ thể dựa trên nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn (Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính) và năng lực và trình độ chuyên môn (chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự, nhân viên). Khi chuyển sang nền kinh tế tri thức phân loại lao động theo tiếp cận công việc nghề nghiệp của người lao động sẽ phù hợp hơn. Lực lượng lao động được chia ra lao động thông tin và lao động phi thông tin. Lao động thông tin lại được chia ra 2 loại: lao động tri thức và lao động dữ liệu.
Lao động dữ liệu (thư ký, kỹ thuật viên.) làm việc chủ yếu với thông tin đã được mã hoá, trong khi đó lao động tri thức phải đương đầu với việc sản sinh ra ý tưởng hay chuẩn bị cho việc mã hoá thông tin. Lao động quản lý nằm giữa hai loại hình này. Lao động phi thông tin được chia ra lao động sản xuất hàng hoá và lao động cung cấp dịch vụ. Lao động phi thông tin dễ dàng được mã hoá và thay thế bằng kỹ thuật, công nghệ.
Theo phân loại nguồn nhân lực trên, mỗi loại lao động có những đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm. Nồng độ tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao động trí thức, quản lý và phần nào của lao động dữ liệu. Ở Việt Nam, tỷ lệ lao động phi thông tin còn rất cao trong cơ cấu lực lượng lao động, do đó hàng hoá có tỷ lệ trí tuệ thấp. c 8 Muốn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cần tăng nhanh tỷ lệ trí tuệ trong hàng hoá trong thời gian tới.3 Vai trò của nguồn nhân lực Yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định sự vận động, phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu vì tư liệu lao động cần có những người có năng lực tương xứng sử dụng mới có thể nâng cao nền sản xuất. Có thể tóm lược vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại ngày nay như sau: Thứ nhất, con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển; Thứ hai, nguồn nhân lực quyết định việc phát huy các nguồn lực khác; Thứ ba, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất/kinh doanh; Thứ tư, con người là chủ thể và khách thể trong chuỗi quản trị phát triển. Các nguồn lực khác như tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị trí địa lý…là những khách thể, chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn phát huy tác dụng phải có sự kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người. Con người vận dụng năng lực cần thiết, tác động vào các nguồn lực khác nhau và gắn kết chúng lại để tạo ra hoạt động lao động phục vụ cho nhu cầu của xã hội.
Tuy nhiên, mọi hoạt động sản xuất hàng hoá đang diễn ra cũng nhằm mục đích cuối cùng là thoã mãn tối ưu lợi ích về vật chất và cả về tinh thần của con người. Theo thời gian nhu cầu của con người về của cải vật chất, tinh thần lại vô cùng phong phú, đa dạng nên đặt ra yêu cầu hàng hoá sản xuất phải phong phú về số lượng cũng như chủng loại. Do vậy con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Nguồn nhân lực còn có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt khi được bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý trong khi các nguồn lực khác sẽ phát huy tác dụng khi được kết hợp với nguồn nhân lực một cách hiệu quả.
Nguồn nhân lực không chỉ tác động đến các nguồn lực kinh tế mà còn có vai trò quan trọng trong giải quyết các vấn đề xã hội như bất bình đẳng, đói nghèo, tham nhũng… Chất lượng nguồn nhân lực càng cao thì ý thức xã hội càng phát triển, thúc đẩy sự phát c 9 triển của xã hội và trí tuệ dân tộc. Hay nói cách khác, nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đến việc phát huy các nguồn lực khác. Xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội là thúc đẩy năng suất lao động tăng nhanh. Tuy nhiên nó cũng cần có những đột phá về chất lượng nguồn nhân lực với tư cách là chủ thể sáng tạo, năng lực nội sinh chi phối quá trình sản xuất.
Nhờ đó, nền kinh tế tri thức với nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn vốn lớn nhất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Như vậy, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất/kinh doanh. Con người có vai trò là chủ thể cũng như khách thể trong chuỗi quản trị phát triển vì trong hoạt động lao động chinh phục và cải tạo thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của chính bản thân, con người lại luôn sáng tạo, tích luỹ nhằm hoàn thiện, phát triển bản thân mình hơn. Do vậy cùng với việc tạo ra sự phát triển của kinh tế xã hội thì bản thân con người cũng phát triển theo chiều hướng tích cực.2 Công tác phát triển nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là mọt bọ phạn của quản trị nguồn nhân lực chú trọng đến khâu đào tạo và phát triển đọi ngũ nhân viên.
Từ góc đọ quản trị học, phát triển nguồn nhân lực là viẹc tạo ra sự tang truởng bền vững về hiẹu nang của mỗi thành viên nguời lao đọng và hiẹu quả chung của tổ chức, gắn liền với viẹc không ngừng tang lên về chất luợng và số luợng của đọi ngũ cũng nhu chất luợng sống của nhân lực. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực theo những bối cảnh khác nhau. Rothwell (1997) cho rằng thông qua việc kết hợp giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu cá nhân, phát triển nguồn nhân lực ở doanh nghiẹp đuợc thiết kế và thực hiẹn với mục tiêu nâng cao kết quả thực hiẹn công viẹc và cải thiẹn điều kiẹn con nguời. Theo quan điểm sử dụng nang lực con nguời của Tổ chức quốc tế lao đọng thì phát triển nguồn nhân lực bao hàm sự chiếm lĩnh trình đọ lành nghề và phát triển c 10 nang lực làm để tiến đến làm việc hiẹu quả hơn cũng nhu thỏa mãn nghề nghiẹp và cuọc sống cá nhân.
Mô hình nghiên cứu của erry. Gilley và cọng sự (2002) về phát triển nguồn nhân lực cho rằng phát triển nguồn nhân lực là nhằm mục đích nâng cao nang lực, hiẹu quả hoạt đọng của tổ chức, khả nang cạnh tranh và đổi mới, đó là quá trình thúc đẩy viẹc học tạp có tính tổ chức, nâng cao kết quả thực hiẹn công viẹc và tạo ra thay đổi thông qua viẹc tổ chức thực hiẹn các giải pháp, các sáng kiến và các hoạt đọng quản lý. Gilley và các đồng sự (2002) Hình 1. Các nguyên t c của mô h nh phát triển nguồn nhân lực Trong mô hình phát triển nguồn nhân lực của mình (Hình 1.1), tác giả Jerry và các đồng sự đã nêu mối quan hệ của việc phát triển nguồn nhân lực và vai trò của cá nhân – tổ chức trong doanh nghiệp.
Phát triển cá nhân thông qua các hoạt đọng học tạp chính thức hoạc không chính thức để phát triển kiến thức, kỹ nang, nang lực và nhờ đó thay đổi hành vi phù hợp với công viẹc hiẹn tại, nhu cầu của tổ chức cũng nhu nhu cầu của cá nhân.