Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Trải qua hơn 28 năm hình thành và phát triển tính đến năm 2004, Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang đã đào tạo được 5.689 giáo viên trung học cơ sở và tiểu học, cung cấp nguồn nhân lực giáo dục nòng cốt cho tỉnh Khánh Hòa cùng các tỉnh lân cận như Phú Yên, Đắk Lắk và Gia Lai. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng những biến đổi nhanh chóng về văn hóa - xã hội đã tác động sâu sắc đến tư tưởng, làm nảy sinh lối sống thực dụng và sự phai nhạt lý tưởng ở một bộ phận sinh viên sư phạm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất, thực trạng và quy luật vận động của nhân cách sinh viên sư phạm dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Mục tiêu cụ thể nhằm đánh giá thực trạng rèn luyện nhân cách của sinh viên trên hai phương diện cốt lõi: hoạt động học tập và hoạt động chính trị - xã hội; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào sinh viên chính quy tại khuôn viên 43.000 m2 của Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2004. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi định hình chuẩn mực nhân cách cho hơn 1.200 sinh viên đang theo học, tạo động lực nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại khá giỏi vượt mức 31,65% và từng bước chuyển hóa nhà trường thành trung tâm đào tạo đại học trọng điểm của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là luận điểm kinh điển của C. Mác về bản chất con người: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội". Nhân cách không phải là thuộc tính sinh học bẩm sinh thuần túy mà là một chỉnh thể phát triển biện chứng giữa yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội. Nghiên cứu tích hợp quy luật tương tác giữa quá trình xã hội hóa cá nhân và cá nhân hóa xã hội, khẳng định cá nhân tiếp thu giá trị văn hóa xã hội để hoàn thiện bản thân, đồng thời tác động trở lại để cải tạo hiện thực khách quan.

Bên cạnh đó, luận văn quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa "Đức" và "Tài" trong giáo dục con người mới xã hội chủ nghĩa, cùng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về "Dạy chữ, dạy người và dạy nghề". Các khái niệm chính được làm sáng tỏ gồm: nhân cách, nhân cách sinh viên sư phạm, cấu trúc nhân cách và công nghiệp hóa - hiện đại hóa giáo dục. Trong đó, cấu trúc nhân cách được phân tích qua hệ thống phẩm chất (thế giới quan, lý tưởng chính trị, đạo đức, lối sống) và năng lực (năng lực hành động, năng lực giao tiếp, năng lực sư phạm chuyên biệt).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với quy mô cỡ mẫu gồm 356 sinh viên thuộc 4 khoa nòng cốt: 108 sinh viên khoa Tự nhiên, 115 sinh viên khoa Xã hội, 85 sinh viên khoa Ngoại ngữ và 48 sinh viên khoa Tiểu học, đảm bảo độ tin cậy và tính đại diện cao cho hơn 1.200 sinh viên toàn trường.

Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với điều tra xã hội học định lượng là nhằm phản ánh khách quan mối quan hệ giữa nhận thức lý luận và hành vi thực tiễn của người học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết, hồ sơ tuyển sinh và kết quả học tập của Phòng Đào tạo giai đoạn 1996 - 2004. Dữ liệu sơ cấp được xử lý thông qua hệ thống bảng hỏi điều tra thực nghiệm, tọa đàm khoa học và quan sát sư phạm thực hiện trong năm học 2003 - 2004. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và so sánh đối chiếu được áp dụng để lượng hóa các biến số về động cơ học tập, thái độ rèn luyện và mức độ tham gia phong trào đoàn thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về động cơ chọn nghề và ý thức học tập: Kết quả khảo sát 356 sinh viên cho thấy 84,3% lựa chọn ngành vì lòng yêu nghề sư phạm, 32,7% vì kỳ vọng thu nhập ổn định và 15,1% theo định hướng của gia đình. Về ý thức học tập, có 19% sinh viên được đánh giá có ý thức tích cực, 61% ở mức bình thường và 20% còn thể hiện ý thức kém, học đối phó.

Thứ hai, về kết quả đào tạo và tình trạng tự học: Điểm chuẩn tuyển sinh đầu vào tăng trưởng mạnh qua các năm, tiêu biểu khối Tiểu học tăng gấp 2 lần từ 9 điểm năm học 1996 - 1997 lên 18 điểm năm học 2001 - 2002. Tỷ lệ tốt nghiệp năm học 2003 - 2004 đạt 95,19% với 31,65% xếp loại khá giỏi. Tuy nhiên, thời gian tự học còn hạn chế khi chỉ có 26% sinh viên dành từ 5 giờ trở lên mỗi ngày cho việc tự học, 45% học từ 2 đến 4 giờ, 22% học từ 1 đến 2 giờ và 7% hầu như không tự học. Khảo sát 100 sinh viên về kỷ luật phòng thi ghi nhận 38% xác nhận có hiện tượng mang tài liệu và 30% có trao đổi bài khi làm bài thi.

Thứ ba, về hoạt động chính trị - xã hội: Sinh viên thể hiện mức độ ưa thích vượt trội đối với các hình thức câu lạc bộ (80%), nghe nói chuyện văn hóa nghệ thuật (78%) và dạ hội thanh niên (70%). Ngược lại, mức độ yêu thích sinh hoạt chính trị - thời sự chỉ đạt 24%, trong khi có đến 26% không thích và 50% ở mức bình thường. Trong 5 năm, nhà trường đã kết nạp 654 đoàn viên mới và bồi dưỡng kết nạp 21 đảng viên, trong đó có 6 đảng viên là sinh viên tiêu biểu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân hóa trên bắt nguồn từ sự tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường, làm gia tăng tâm lý thực dụng và tư tưởng "trung bình chủ nghĩa" ở một bộ phận người học. Nhiều sinh viên chỉ đặt mục tiêu đạt 5 điểm để vượt qua kỳ thi mà chưa chú trọng tích lũy tri thức chuyên sâu. Phương thức tổ chức sinh hoạt chính trị tại một số chi đoàn còn nặng về hành chính, hình thức, chưa bắt kịp thị hiếu năng động của tuổi trẻ.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu cấp Nhà nước về định hướng giá trị thanh niên Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Để tăng tính trực quan, các dữ liệu này có thể được biểu diễn qua bảng ma trận tương quan giữa điểm chuẩn tuyển sinh đầu vào và tỷ lệ phân loại tốt nghiệp, kết hợp cùng biểu đồ cột so sánh cơ cấu phân bổ thời gian tự học nhằm làm rõ mức độ tương thích giữa nhận thức và hành động thực tiễn của sinh viên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới căn bản nội dung và phương pháp giáo dục lý luận chính trị: Tổ Chính trị phối hợp cùng Khoa Xã hội tiến hành hiện đại hóa bài giảng các môn khoa học Mác - Lênin, gắn lý luận với các vấn đề đạo đức nghề nghiệp thực tiễn. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên yêu thích sinh hoạt chính trị từ mức 24% lên trên 65% trong giai đoạn 2004 - 2007.

Thứ hai, nâng cao kỷ cương học đường và năng lực tự học: Phòng Đào tạo cùng Ban Quản lý sinh viên thiết lập quy chế quản lý giờ tự học tại thư viện, kiểm soát chặt chẽ quy trình coi thi để giảm thiểu tỷ lệ vi phạm quy chế thi từ 38% xuống dưới 5% ngay trong năm học 2004 - 2005; đồng thời tăng tỷ lệ sinh viên tự học từ 5 giờ/ngày trở lên đạt mức 50%.

Thứ ba, đa dạng hóa hoạt động Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên: Ban Chấp hành Đoàn trường chủ động đổi mới mô hình sinh hoạt chi đoàn, phát triển các câu lạc bộ học thuật và kỹ năng mềm. Đặt chỉ tiêu thu hút 100% đoàn viên tham gia phong trào tình nguyện, phấn đấu bồi dưỡng kết nạp từ 15 đến 20 đảng viên là sinh viên mỗi năm học trong lộ trình 2004 - 2008.

Thứ tư, hoàn thiện môi trường văn hóa sư phạm và cơ sở vật chất: Đảng ủy và Ban Giám hiệu triển khai đồng bộ quy tắc ứng xử văn minh học đường, nâng cấp khu nội trú đáp ứng chỗ ở ổn định cho 1.500 sinh viên, từng bước xóa bỏ hoàn toàn tình trạng đi học muộn (hiện chiếm 35% đến 44%) trước năm 2006.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ quản lý và Ban Giám hiệu các trường sư phạm: Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu thực chứng và cơ sở khoa học để hoạch định chiến lược đào tạo, chuẩn hóa quy trình quản trị sinh viên và thiết lập tiêu chí đánh giá nhân cách nhà giáo tương lai.

Nhóm giảng viên giảng dạy Lý luận chính trị và Tâm lý - Giáo dục học: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo giá trị nhằm đổi mới phương pháp sư phạm, lồng ghép các tình huống thực tiễn vào bài giảng để nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên.

Nhóm cán bộ phụ trách công tác Đoàn - Hội: Nắm bắt chính xác xu hướng tâm lý và nhu cầu hoạt động của thanh niên (như tỷ lệ 80% ưa chuộng mô hình câu lạc bộ) để thiết kế các phong trào ngoại khóa hấp dẫn, hạn chế tính hình thức.

Nhóm học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Triết học, Xã hội học: Tiếp cận phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp kỹ thuật điều tra xã hội học (N = 356) làm khung tham chiếu cho các đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực và nhân cách con người Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nhân cách sinh viên sư phạm có điểm gì khác biệt so với sinh viên các ngành khác? Nhân cách sinh viên sư phạm mang tính chuẩn mực và mô phạm rất cao bởi sản phẩm lao động tương lai của họ chính là nhân cách của học sinh. Đúng như nhận định của Usinsky, uy tín của người thầy bắt nguồn từ chính sức mạnh nhân cách; điều này được phản ánh qua tỷ lệ 84,3% sinh viên lựa chọn học tập xuất phát từ lòng yêu nghề sâu sắc.

Thực trạng tự học của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang diễn ra như thế nào? Số liệu khảo sát chỉ ra rằng có 26% sinh viên tự học trên 5 giờ mỗi ngày, 45% tự học từ 2 đến 4 giờ, 22% dành 1 đến 2 giờ và 7% hầu như không tự học. Tình trạng này đòi hỏi nhà trường phải chuyển biến mạnh mẽ phương thức đào tạo theo hướng tăng cường năng lực tự nghiên cứu.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các biểu hiện tiêu cực trong thi cử là gì? Tình trạng 38% sinh viên quan sát thấy hiện tượng mang tài liệu vào phòng thi bắt nguồn từ động cơ học tập đối phó, tư tưởng "trung bình chủ nghĩa" chỉ cần đạt điểm trung bình để ra trường và sự thiếu nghiêm khắc trong khâu kiểm tra, đánh giá định kỳ tại một số đơn vị.

Hoạt động Đoàn - Hội đóng vai trò như thế nào trong việc định hình nhân cách? Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên đóng vai trò là môi trường xã hội hóa cá nhân thực tiễn. Minh chứng là trong giai đoạn khảo sát, các tổ chức này đã kết nạp 654 đoàn viên, giới thiệu 21 đảng viên mới và thu hút hơn 200 sinh viên tham gia phong trào hiến máu nhân đạo cứu người.

Làm thế nào để kết hợp hài hòa giữa phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn cho sinh viên? Nhà trường cần thực hiện triệt để quan điểm giáo dục toàn diện của Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa Đức và Tài. Việc giảng dạy tri thức chuyên môn phải luôn song hành với công tác bồi dưỡng thế giới quan Mác - Lênin và rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm trong từng học kỳ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất, cấu trúc và con đường hình thành nhân cách sinh viên sư phạm.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng rèn luyện của 356 sinh viên, chỉ ra tỷ lệ tốt nghiệp đạt 95,19% cùng những chuyển biến tích cực trong nhận thức nghề nghiệp.
  • Nhận diện thẳng thắn các mặt tồn tại như 20% sinh viên có ý thức học tập kém và 38% hiện tượng vi phạm quy chế thi cử dưới tác động của cơ chế thị trường.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm đổi mới giáo dục chính trị, quản lý học đường và phát triển phong trào Đoàn - Hội.
  • Khẳng định giá trị khoa học thực tiễn của luận văn trong việc chuẩn bị nguồn lực đưa nhà trường phát triển thành cơ sở đào tạo đại học giai đoạn 2005 - 2010.

Các cấp lãnh đạo giáo dục, ban ngành đoàn thể và toàn thể giảng viên cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ triển khai các giải pháp trên nhằm xây dựng thế hệ nhà giáo tương lai vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức và tinh thông về nghiệp vụ.