Chương 1. Cơ sở khoa học về phát triển nguồn nhân lực trong t chức. Thực trạng nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ Bình Ðịnh. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ.
9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực a. Nhân lực “Nhân lực là t ng hoà của sức lực, tr lực và tâm lực: Sức lực là sức cơ bắp của con ngƣời, nó ph thu c vào đ tu i, giới, mức sống, chế đ dinh dƣỡng, chỉ sức khỏe của thân thể và nó ph thu c vào sức vóc và tình trạng sức khỏe của từng ngƣời, mức sống, y tế, chế đ làm việc, nghỉ ngơi…Tr lực là yếu tố phản ánh khả năng nhận thức, tƣ duy, là những thu c t nh về tr tuệ gi p con ngƣời nắm đƣợc tri thức, hoạt đ ng dễ dàng có hiệu quả trong các hoạt đ ng khác nhau, đó là năng lực tr tuệ.
Tâm lực là tinh thần trách nhiệm, tâm huyết của con ngƣời dành cho công việc mà họ đƣợc phân công”. Nguồn nhân lực Khái niệm “nguồn nhân lực” đƣợc s d ng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nƣớc phƣơng Tây và m t số nƣớc Châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị tr của con ngƣời trong sự phát triển. Ở nƣớc ta, khái niệm này đƣợc s d ng r ng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Khi nói đến nguồn nhân lực, ngƣời ta bàn đến trình đ , cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trƣờng lao đ ng.
Chất lƣợng nguồn nhân lực phản ánh trong trình đ kiến thức, kỹ năng và thái đ của ngƣời lao đ ng. Liên hiệp quốc c ng có cách tiếp cận tƣơng tự và cho rằng: Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và t nh sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của 1 đất nƣớc” [29]. Quan niệm này xem xét nguồn lực con ngƣời chủ yếu ở phƣơng diện chất lƣợng con ngƣời và vai tr , sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã h i. Ch nh vì vậy, Liên hiệp quốc đã kêu gọi các quốc gia quan tâm hơn nữa tới nguồn nhân lực, vì: …đầu tƣ vào vốn con ngƣời trƣớc hết có tỷ lệ thu hồi vốn cao hơn so với đầu tƣ cho các nguồn lực khác… tiết kiệm đƣợc việc s d ng và khai thác các nguồn lực khác, lợi ch thu đƣợc từ đầu tƣ này có t nh lan tỏa đồng đều hơn so với đầu tƣ vào các nguồn lực khác.
Do vậy, việc tập trung phát triển con ngƣời sẽ đem lại tốc đ phát triển cao hơn, n định hơn và công bằng hơn trong phân phối lợi ch của sự phát triển. Theo UNDP, thì nguồn nhân lực là t ng thể những năng lực (cơ năng và tr năng) của con ngƣời đƣợc huy đ ng vào quá trình sản xuất, nguồn năng lực - n i lực đó của con ngƣời c ng ch nh là n i lực xã h i của m t quốc gia. Ðối với những nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, với dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đang trở thành m t trong những nguồn n i lực quan trọng nhất và nếu biết khai thác nguồn n i lực đó m t cách hiệu quả sẽ tạo ra m t đ ng lực to lớn cho phát triển kinh tế - xã h i. Ở Việt Nam, theo ý kiến của GS.TSKH Phạm Minh Hạc thì: Nguồn lực con ngƣời đƣợc hiểu là số dân và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và tr tuệ, năng lực và phẩm chất [3], GS.TS Hoàng Chí Bảo cho rằng: Nguồn lực con ngƣời là sự kết hợp thể lực và tr lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lƣợng - hiệu quả hoạt đ ng và triển vọng mới phát triển của con ngƣời” tức là kết cấu bên trong của nguồn nhân lực bao gồm sức mạnh thể lực, tr tuệ và sự kết hợp hai yếu tố đó tạo thành năng lực sáng tạo của con ngƣời trong quá trình cải tạo tự nhiên.
Tác giả Ðoàn Khải cho rằng: “Nguồn lực con ngƣời là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lƣợng con ngƣời với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã h i” [5]. Theo tác giả Lê Thị Ngân, trong luận án tiến sĩ thì nguồn nhân lực 1 đƣợc quan niệm là t ng thể sức lao đ ng của xã h i đang và sẽ đƣợc vận d ng cho quá trình sản xuất xã h i hay nói m t cách rõ hơn: Nguồn nhân lực là t ng thể những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong t ng số lực lƣợng lao đ ng của xã h i và đƣợc họ đang và sẽ đem ra vận d ng để sản xuất ra hàng hóa tiêu d ng cho xã h i [8]. C n trong dịp gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học - công nghệ các tỉnh, thành phố ph a Bắc khi đề cập đến vấn đề tăng cƣờng sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các nhà khoa học - công nghệ và các cơ quan Ch nh phủ để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, trong lời phát biểu của mình nguyên Thủ tƣớng Phan Văn Khải đã khẳng định: “Nguồn lực con ngƣời bao gồm cả sức lao đ ng, tr tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân t c ta” [6]. Theo quan điểm của m t số nhà khoa học khác, thì: nguồn nhân lực đƣợc xem là số dân và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất, tinh thần, sức khỏe và tr tuệ, năng lực phẩm chất, thái đ và phong cách lao đ ng.
Do khi nghiên cứu nguồn nhân lực xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nhƣ vậy nên có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhƣng nhìn chung các khái niệm đó đều thống nhất về n i dung cơ bản là: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao đ ng cho xã h i, là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất, giữ vai tr quyết định sự phát triển kinh tế - xã h i của mọi quốc gia. Nhƣ vậy, khi nói tới nguồn nhân lực trƣớc hết phải hiểu đó là toàn b những ngƣời lao đ ng đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã h i và các thế hệ những ngƣời lao đ ng tiếp t c tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã h i, con ngƣời đóng vai tr là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn b quá trình đó, hƣớng nó tới m c tiêu đã đƣợc chọn. Cho nên nguồn nhân lực nó c n bao gồm m t t ng thể các yếu tố thể lực, tr lực, kỹ năng lao đ ng, thái đ và phong cách làm việc, đó ch nh là các yếu tố 1 thu c về chất lƣợng nguồn nhân lực. Ngoài ra khi nói tới nguồn nhân lực phải nói tới cơ cấu của lao đ ng, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề.
Khi nói nguồn nhân lực cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình đ chuyên môn nghiệp v của con ngƣời, bởi vì trí lực là yếu tố ngày càng đóng vai tr quyết định sự phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra khi nói đến nguồn nhân lực c ng cần phải nói tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, đạo đức và nhân cách của con ngƣời. Tóm lại, trí tuệ, thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định chất lƣợng và sức mạnh của nguồn nhân lực. Từ những phân tích nêu trên, trong Luận văn này khái niệm nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: nguồn nhân lực là m t phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy đ ng tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã h i trong hiện tại c ng nhƣ trong tƣơng lai.
Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời cơ sở đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã h i. Nguồn nhân lực hành chính công Nguồn nhân lực hành chính công bao gồm những lao đ ng tham gia trực tiếp vào các hoạt đ ng hành chính công ở các cơ quan hành chính Nhà nƣớc và có thu nhập chính từ hoạt đ ng đó. Nhân lực hành chính công phải có những năng lực phù hợp với yêu cầu của ngành hành chính công. * Bộ máy hành chính nhà nước Các cơ quan thực hiện quyền hành pháp c n đƣợc gọi là b máy hành chính nhà nƣớc.
B máy hành chính nhà nƣớc là m t b phận cấu thành của b máy nhà nƣớc, đƣợc t chức thống nhất từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, đứng đầu là Chính phủ, chịu trách nhiệm thực hiện quyền hành pháp. Ðể thực hiện quyền hành pháp hiệu lực và hiệu quả cao nhất, b máy 1 hành chính nhà nƣớc cầ đƣợc to chức và hoạt đ ng theo nguyên tắc thứ bậc, cấp trên chỉ đạo, lãnh đạo, cấp dƣới phục tùng mệnh lệnh và chịu sự kiểm soát của các cấp trong hoạt đ ng. B máy hành chính nhà nƣớc là m t thể thống nhất, thông suốt từ trung ƣơng đến địa phƣơng, đƣợc phân chia thành hai b phận: b máy hành chính nhà nƣớc ở trung ƣơng và b máy hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng. * Công chức, viên chức Công chức: Khái niệm công chức thƣờng đƣợc hiểu khác nhau ở các quốc gia.
Việc xác định ai là công chức thƣờng do các yếu tố sau quyết định: - Hệ thống thể chế chính trị; - Hệ thống thể chế hành chính; - Tính truyền thống; - Sự phát triển kinh tế - xã h i; - Các yếu tố văn hóa. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của công chức ở m t nƣớc nào đó thƣờng là: Công dân của nƣớc đó, đƣợc tuyển dụng qua thi tuyển, đƣợc bo nhiệm vào m t ngạch hoặc m t vị trí công việc, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.