Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực du lịch; Chương 2. Thực trạng phát triển nhân lực du lịch tại Kiên Giang giai đoạn 2008 – 2012; Chương 3. Định hướng và giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác phát triển nhân lực du lịch tại Kiên Giang.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực không còn xa lạ đối với xã hội ngày nay.
Nguồn nhân lực là một khái niệm xuất phát từ những mục tiêu nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau nảy sinh ra nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực được hiểu một cách đơn giản là nguồn lực con người của một đất nước, một tổ chức. Trước đây, khi nghiên cứu về nguồn lực con người thì ta thường nhắc đến chất lượng và vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Về phương diện này, Từ điển thuật ngữ của Liên Xô trước đây, cho rằng nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực (đang lao động) và tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động) [5, tr.
Ngân hàng Thế giới quan niệm nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Theo Liên hiệp quốc thì nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước [2, tr. Như vậy, ở đây nguồn nhân lực của một đất nước được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác là vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Ở Việt Nam, từ những năm xây dựng nền kinh tế mở cửa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, khái niệm nguồn nhân lực đã được sử dụng khá rộng rãi.
Nhiều công trình đã nghiên cứu về nguồn nhân lực của đất nước trong thời đại mới đến các công trình nghiên cứu nhân lực của ngành nghề được thực hiện nhằm phát triển cơ sở lý luận và giải quyết những vấn đề phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Khái niệm nguồn nhân lực 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được hiểu ở dạng cơ bản đó là nguồn lực của con người, hoặc của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực như tài lực, vật lực… có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, được xem như là nguồn lao động của một bộ phận dân số những người đang thuộc độ tuổi lao động. Mặc khác, nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số.
Số lượng nguồn nhân lực thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhân lực hàng năm. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu thức: Sức khỏe; trình độ học vấn; trình độ chuyên môn/ lành nghề… Chất lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quốc gia quyết định[2, tr. Tùy theo cách tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực khác nhau nên quy mô nguồn nhân lực khác nhau, ngoài ra có thể giúp các nhà hoạch định chính sách có biện pháp khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn nhân lực. Với cách tiếp cận dựa vào độ tuổi lao động và trạng thái hoạt động kinh tế, theo Tổng cục Thống kê Việt Nam đã đưa ra nhận định “Nguồn nhân lực gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc, những người thuộc các tình trạng khác như nghỉ hưu trước tuổi.
Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con người và giới hạn tuổi lao động: Nguồn lao động gồm toàn bộ những người trong độ tuổi tao động, có khả năng lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không. Với khái niệm này quy mô nguồn nhân lực chính là nguồn lao động [2, tr. Như đã nêu trên, nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Trong nguồn lao động thì có lực lượng lao động.
“Lực lượng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc” [2, tr. Như vậy, có thể khẳng định nguồn nhân lực chính là nguồn lực quan trọng bậc nhất của đất nước. Sự phát triển đồng đều của chất lượng và số lượng nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định thúc đẩy quá trình phát triển của một quốc gia trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa như hiện nay.
Nguồn nhân lực du lịch và đặc điểm nguồn nhân lực du lịch Trên nền tảng của khái niệm về nguồn nhân lực đã nêu, có thể hiểu nguồn nhân lực du lịch là lực lượng lao động bao gồm những người đang làm việc hoặc tìm kiếm việc làm trong lĩnh vực du lịch. Nguồn nhân lực du lịch gồm nhân lực du lịch trực tiếp và nhân lực du lịch gián tiếp, những nhân lực hiện tại và nhân lực tiềm năng trong ngành Du lịch. Tuy nhiên ranh giới giữa nhân lực du lịch trực tiếp và nhân lực du lịch gián tiếp, nhân lực hiện tại và nhân lực tiềm năng trong du lịch rất mong manh và rất khó phân định rạch ròi. Nguồn nhân lực du lịch trực tiếp là lực lượng nhân lực hoạt động quản lý nhà nước về du lịch, hoạt động sự nghiệp ngành Du lịch (đào tạo và nghiên cứu khoa học) và kinh doanh du lịch.
Còn nhân lực du lịch gián tiếp là những người hoạt động trong các lĩnh vực khác có liên quan đến hoạt động du lịch như Hàng không, Hải quan, Giao thông vận tải, Y tế, Bưu chính viễn thông, Công nghệ thông tin, Văn hóa, Môi trường…. Lực lượng nhân lực du lịch hiện tại là nguồn nhân lực trực tiếp và gián tiếp đang tham gia hoạt động trong ngành Du lịch và nhân lực du lịch tiềm năng là những người có mong muốn hoặc đang tìm kiếm việc làm trong lĩnh vực du lịch như học sinh, sinh viên, hay những người thuộc ngành khác… 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài này, luận văn chỉ đề cập đến lực lượng nhân lực du lịch trực tiếp. Các nhóm nhân lực trong ngành Du lịch Nguồn nhân lực lao động trực tiếp trong ngành Du lịch được chia làm ba nhóm: Nhóm nhân lực có chức năng quản lý nhà nước về du lịch, nhóm nhân lực có chức năng sự nghiệp ngành Du lịch (làm nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học) và nhóm nhân lực có chức năng kinh doanh du lịch. Nhóm nhân lực quản lý nhà nước về du lịch Nhóm này gồm những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương, như ở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn trực thuộc Chính phủ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; phòng Văn hóa, Thông tin cấp huyện (bao gồm: Quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh); Ban Văn hóa ở các xã.
Nhóm nhân lực này đảm nhận nhiều nhiệm vụ và chức năng khác nhau như hoạch định chiến lược phát triển du lịch, hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch, tổ chức tuyển dụng, đào tạo cán bộ, hợp tác liên tỉnh và quốc tế về du lịch, lập kế hoạch đầu tư du lịch, quản lý và thanh tra lữ hành, nhà hàng khách sạn… Đây là lực lượng chiếm tỷ trọng không lớn trong toàn bộ nhân lực du lịch, nhưng có trình độ cao về chuyên môn và kỹ năng quản lý, có hiểu biết tương đối toàn diện và vĩ mô thuộc quản lý nhà nước. Bộ phận nhân lực quản lý nhà nước về du lịch có vai trò quan trọng trong xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và của từng địa phương, tham mưu cho các cấp ủy Đảng và chính quyền trong việc đề ra đường lối và chính sách phát triển du lịch bền vững và có hiệu quả. Mặt khác, họ cũng đại diện cho Nhà nước hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh đó [4, 121]. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vì vai trò của những người làm việc trong cơ quan quản lý nhà nước về du lịch như kim chỉ nam cho các hoạt động du lịch quốc gia, địa phương, vì thế cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn lực này đúng cách nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển ngành Du lịch trong từng giai đoạn cụ thể.
Nhóm nhân lực sự nghiệp ngành Du lịch Nhóm nhân lực sự nghiệp ngành Du lịch gồm những người làm việc ở các cơ sở nghiên cứu du lịch, là các cán bộ nghiên cứu, các nghiên cứu viên ở các viện khoa học và công nghệ về du lịch, ví dụ như Viện Nghiên cứu phát triển du lịch; ở các cơ sở giáo dục, đào tạo như cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, các trường chuyên nghiệp du lịch, các cơ sở và trung tâm dạy nghề du lịch. Nhóm nhân lực này mang “sứ mạng” nghiên cứu và đào tạo thế hệ lành nghề cho ngành Du lịch.