PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong các nguồn lực cần thiết để tạo ra sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia nói chung và đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng thì nguồn nhân lực cốt lõi để tạo ra giá trị vật chất cho tổ chức, tạo lập vị thế cạnh tranh và có tính chất quyết định nhất đối với các nguồn lực. Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, “một nguồn lực chính của sự phát triển kinh tế”. Bởi vậy, việc phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề quan trọng nhất và chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), đã chỉ rõ mục tiêu về phát triển nguồn nhân lực “Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ), cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công”. Tại Quyết định số 4009/QĐ-BKHCN ngày 29 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhận lực ngành khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 đã nêu quan điểm “Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ nhằm góp phần thực hiện thành công mục tiêu của định hướng phát triển khoa học và công nghệ các giai đoạn 2011-2015 và 2015- 2020; của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020; Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ vừa đảm bảo tính hài hòa về cơ cấu theo ngành, khu vực, vừa đảm bảo theo hướng tập trung phát triển nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ ưu tiên; Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ vừa có tính chiến lược dài hạn, vừa có tính thường xuyên, liên tục, phù hợp với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn; …… và đặt mục tiêu cụ thể đối với đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ tại các tổ chức đến năm 2020 “Đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trong các tổ 1 chức khoa học và công nghệ đảm bảo tăng bình quân 15%/năm: đạt trên 103.200 người đến năm 2015, trong đó trên 30% đạt trình độ trên đại học; đến năm 2020 tăng lên khoảng 154.100 người, trong đó trên 35% có trình độ trên đại học”.
Tại Nghị quyết số 53/2011/NQ-HĐND ngày 20 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp về Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2020, đã chỉ rõ mục tiêu Quy hoạch phát triển nhân lực tại tỉnh Đồng Tháp “ Phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp; Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống dạy nghề gắn kết chặt chẽ giữa nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề…”. Trung tâm Kiểm định và Kiểm nghiệm Đồng Tháp (Trung tâm) là một đơn vị hoạt động chuyên nghiệp trên lĩnh vực khoa học và công nghệ thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ (thông tin, thống kê khoa học công nghệ, ứng dụng, chuyển giao công nghệ) do Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Tháp giao và thực hiện cung cấp dịch vụ công (kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo lường, kiểm tra an toàn bức xạ, phân tích thử nghiệm trên các mẫu: nông sản, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, môi trường, dược phẩm, mỹ phẩm,.) đây là hoạt động chính của Trung tâm. Đây cũng là những nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi tính chính xác, nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo sự tin tưởng của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân. Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, đòi hỏi phải có một đội ngũ nguồn nhân lực đủ về số lượng và hoàn thiện về chất lượng.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong những năm qua Trung tâm đã có nhiều đề xuất lên Sở Khoa học và Công nghệ nhằm từng bước hoàn thiện nguồn nhân lực và bước đầu đã có được một đội ngũ nhân lực cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong điều kiện mới, những hành vi gian lận về đo lường, chất lượng trong sử dụng hóa chất trong bảo quản, sản xuất ngày càng diễn biến phức tạp. Vì vậy, với đội ngũ nhân lực hiện có của Trung tâm thì khó có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong thời gian tới. Với mong muốn chỉ ra thực trạng của nguồn nhân lực, những yêu cầu đặt ra của công tác kiểm định, kiểm nghiệm trên địa bàn tỉnh Đồng tháp nên em đã chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực CLC tại Trung tâm Kiểm định và Kiểm nghiệm Đồng Tháp” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 2. Các nghiên cứu trong nước Trương Thị Tuyết Mai (2015) với luận văn thạc sĩ “Phát triển nguồn nhân lực tại Thời báo kinh tế Việt Nam” với các mục tiêu của việc phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức: Nâng cao hiệu quả của tổ chức và sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có trên cơ sở làm cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình từ đó thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình tốt hơn, tự giác hơn, làm cho nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu của Tòa báo cũng như nâng cao kỹ năng thích ứng của cán bộ phóng viên, biên tập viên với các công việc trong tương lai, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực của đơn vị. Tạ Ngọc Hải (2019) với bài viết: “Phát triển nhân lực công – Tư duy và hành động” đưa ra nhận thức về phát triển nhân lực công và xác định sự thành công hay không là phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của NNL. Tác giả xác định đối tượng phát triển nhân lực công đó là đội ngũ CBCCVC, mục tiêu và nội dung phát triển nhân lực công: phát triển về cả số lượng chất lượng và cơ cấu hợp lý, các biện pháp và chủ thể phát triển nhân lực công.
Đồng thời nêu ra các nhiệm vụ và giải pháp cần thực hiện để phát triển NNL công như (1) giải pháp về nhận thức, (2) Hiện thực hóa khái niệm “phát triển nhân lực công”, (3) Cải thiện cơ cấu CBCCVC thông qua phát triển nhân lực công, (4) Kiện toàn tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, (5) Nâng cao chất lượng đội ngũ những người làm công tác phát triển nhân lực công. Nguyễn Thị Mai Hương (năm 2017), luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế “Phát triển nguồn nhân lực cán bộ, công chức ở văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An”. Qua đó tác giả chỉ rõ thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh: là một tỉnh rộng, dân số đông, đựợc phân chia nhiều vùng miền khác nhau, kinh tế - xã hội của tỉnh có nhiều biến động theo xu thế chung của cả nước, nhưng đồng thời cũng có những đặc thù riêng. Văn phòng UBND tỉnh là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho Lãnh đạo UBND tỉnh trong công tác chỉ đạo, điều hành kinh tế - xã hội, vì vậy đòi hỏi cán bộ, công chức phải không ngừng nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức để đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Để làm đựợc điều đó, Văn phòng UBND tỉnh cần có những giải pháp phù hợp để phát triển nguồn nhân lực đội ngũ cán bộ, công chức cả về số lượng và chất lượng. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và 3 thực tiễn quản lý cán bộ, công chức, luận văn đưa ra với tư cách là công chức Văn phòng tác giả đã nêu ra các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực cán bộ, công chức ở Văn phòng UBND tỉnh Nghệ An. Phạm Đức Tiến (2016), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập Quốc tế” chỉ ra Những tồn tại trong quá trình thực hiện những chủ trương, chính sách trong thực tế còn nhiều hạn chế; trong chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước nhiều lúc chưa kịp thời, chưa ăn khớp với nhau;giáo dục đào tạo, công tác bồi dưỡng còn nhiều bất cập trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nhiều cơ chế, chính sách còn chưa phù hợp, chưa sát với thực tế;nhận thức, thái độ của các cấp ủy đảng, của nhân dân và xã hội đối với nguồn nhân lực này thì còn rất nhiều vấn đề bất cập.Từ đó tác giả đã có nhiều nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp về nhận thứ;.Nhóm giải pháp về cơ chế, thể chế; Nhóm giải pháp về giáo dục đào tạo;Nhóm giải pháp về tài chính; Nhóm giải pháp về hợp tác quốc tế. Thông qua những vấn đề lí luận và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, những đóng góp của các công trình có liên quan đã thực sự gợi mở và định hướng cho tác giả luận án có những nghiên cứu mới về “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt nam hội nhập quốc tế” dưới góc nhìn chính trị học.
Nguyễn Tấn Vinh (2016), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đã khẳng định: Việt Nam đang trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, để phát triển nhanh, mạnh và bền vững thì yêu cầu cơ bản đầu tiên là NNL phải đảm bảo cả hai yêu cầu là về chất lượng và số lượng. Thực tiễn cũng đã chứng minh NNL chất lượng cao là cấp bách ở hiện tại và cả tương lai bởi vì đây là nguồn lực có trình độ cao có khả năng tiếp thu và ứng dụng những công nghệ mới; công nghệ cao; những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào nền kinh tế thị trường đồng thời sử dụng các nguồn lực khác cho tiến trình phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.