Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học tiêu biểu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực: Eric A.], đã tiếp cận vấn đề NNL ở góc độ vốn nhân lực. Theo tác giả bài viết, các nghiên cứu về vai trò của vốn nhân lực đối với tăng trưởng của các quốc gia hầu như đã bỏ qua mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng của lực lượng lao động.
Trên cơ sở tiến hành các thử nghiệm so sánh toán học và kỹ năng khoa học để xem xét một cách rõ ràng chất lượng của lực lượng lao động, bài viết đã đưa ra kết luận, chất lượng của lực lượng lao động có mối quan hệ ổn định, nhất quán và tác động mạnh mẽ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Sự khác biệt về chất lượng của lực lượng lao động là rất quan trọng đối với tăng trưởng, chất lượng lao động có tác động nhân quả đối với sự tăng trưởng của các quốc gia.], đã trình bày khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển NNL ở một số nước trên thế giới. Bài viết cho rằng, thuật ngữ NNL bắt đầu được sử dụng vào những năm 80 của thế kỷ XX khi phương thức quản lý, sử dụng con người trong hoạt động kinh tế có sự thay đổi căn bản. Nếu trước đây, phương thức quản trị nhân viên với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì hiện 12 nay, quản lý NNL được thực hiện một cách mềm dẻo, linh hoạt hơn theo hướng tạo điều kiện tốt nhất để người lao động có thể phát huy khả năng của họ thông qua tích lũy trong quá trình lao động.
Bài viết cũng đưa ra quan niệm về NNL và đề xuất một số giải pháp cơ bản để phát triển NNL. Marc Effron, Robert Gandossy, Marshall Goldsmith (2007), Human resourses in the 21st century (Nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI) [164. Trong công trình này, tác giả đã phân tích tư tưởng của một số nhà lãnh đạo như David Ulrich, Rosabelth Moss Kanter và Jeffrey Pfeffer về khoa học quản lý và chiến lược phát triển con người, từ đó khẳng định vai trò quyết định của NNL đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đặc biệt, nội dung cuốn sách đã nhấn mạnh, để NNL trở thành động lực cho sự phát triển phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó giáo dục, đào tạo giữ vai trò quan trọng nhất.
Chính giáo dục và đào tạo sẽ làm gia tăng giá trị của NNL một cách toàn diện, cả về phẩm chất, trình độ và năng lực, nhất là tính năng động, khả năng sáng tạo và độc lập trong công việc. Tác giả cuốn sách đã khẳng định vai trò quan trọng của NNL đối với sự tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển. Theo đó, đầu tư vào vốn nhân lực là vấn đề đã và đang nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế học. Một nghiên cứu tiêu biểu được tiến hành bởi Baldacci, Clements, Gupta và Cui (2004) đã phân tích dữ liệu từ 120 nước đang phát triển thu thập từ năm 1975 đến năm 2000.
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, số năm đi học (đại diện cho vốn nhân lực) có mối quan hệ tích cực với sự phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển. Họ chứng minh rằng, tác động của giáo dục đối với tăng trưởng được khẳng định rõ hơn tại các nước có thu nhập thấp, nơi sự gia tăng 1 điểm phần trăm trong tổng tỷ lệ đăng ký nhập học liên kết với sự gia tăng 0,1 phần trăm trong tăng trưởng GDP. Hiệu ứng này là 1,5 lần với các nước có thu nhập trung bình. Kết quả nghiên cứu này cho thấy, đầu tư phát triển NNL, đặc 13 biệt là đầu tư vào giáo dục, đào tạo để nâng cao chất lượng NNL có mối quan hệ chặt chẽ với sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu (2008), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài - Kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước [53.], đã phân tích tư tưởng cơ bản của Đặng Tiểu Bình về nhân tài và khẳng định vai trò quan trọng của việc bồi dưỡng nhân tài đối với sự tồn vong, phát triển của Trung Quốc. Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề rất cơ bản như: nhân tài là then chốt của phát triển; đường lối tổ chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ; những tư tưởng chiến lược về bồi dưỡng và giáo dục nhân tài; tuyển chọn nhân tài ưu tú; sử dụng và bố trí nhân tài; tạo môi trường cho nhân tài phát triển; cải cách chế độ nhân sự trong việc sử dụng nhân tài. Điểm nổi bật trong nội dung cuốn sách là quan điểm tiếp cận về nhân tài. Theo tác giả cuốn sách, nhân tài không chỉ là những thiên tài bẩm sinh, những người kiệt xuất mà chính là những con người trưởng thành trong môi trường học tập, công tác.
Với góc độ tiếp cận như vậy, có thể coi những nông dân tiên tiến, công nhân tiên tiến, những nhà chuyên môn tiên tiến là nhân tài. Đây là vấn đề gợi mở giúp tác giả luận án nghiên cứu, tiếp cận vấn đề nhân tài trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có lực lượng nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi ở Việt Nam hiện nay. Rebecca Mazin, Shawn Smith (2011), HR Answer Book: An Indispensable Guide for Managers and Human Resources Professionals Kindle Edition (Sách giải đáp về nhân sự: Hướng dẫn không thể thiếu cho các nhà quản lý và chuyên gia nhân sự) [169.], đã đề cập đến một khía cạnh khác của NNLCLC, đó là vấn đề tuyển dụng NNL chuyên gia. Từ việc phân tích và khẳng định vai trò quan trọng của NNL chuyên gia, cuốn sách đã cung cấp các phụ lục bảng biểu và 200 câu hỏi để những người lãnh đạo, quản lý và sử dụng lao động nắm được trong quá trình điều hành công việc; đồng thời đề xuất một số yêu cầu đối với phát triển NNL chuyên gia đó là: phải thực hiện tốt các kỹ năng nghề nghiệp, phải thường xuyên học tập nâng cao trình 14 độ, phải có đạo đức tốt và là những người sống có văn hóa.
Mặc dù chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề NNLCLC, song nội dung của cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích để tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu vấn đề phát triển NNL chất lượng cao trong bối cảnh hiện nay.], đã đề cập trực tiếp đến vấn đề phát triển NNLCLC. Theo tác giả bài viết, cùng với quá trình phát triển của các quốc gia thì nhu cầu NNLCLC (nhất là các chuyên gia) sẽ ngày càng tăng, vì vậy việc xây dựng các tiêu chuẩn và tổ chức đào tạo, cách thức đào tạo và thi tuyển là rất quan trọng, quá trình đó sẽ giúp NNL nâng cao trình độ chuyên môn và trải nghiệm các tình huống thực tế công việc mà mình sẽ làm trong tương lai. Với mục đích đó, cuốn sách đã đưa ra hệ thống các bảng biểu, hướng dẫn để người lao động phấn đấu, rèn luyện trở thành những lao động chất lượng cao. Đồng thời, xây dựng các khung tiêu chuẩn và chế độ tiền công, tiền thưởng tạo động lực hữu ích để thúc đẩy năng suất lao động của nguồn nhân lực chất lượng cao.
Yada Sadayuki (2015), “Toàn cầu hóa và cải cách giáo dục” [ 103.], đã phân tích những tác động của xu thế toàn cầu hóa và khẳng định sự cần thiết phát triển NNLCLC toàn cầu trong bối cảnh hiện nay. Bài viết cho rằng: “cùng với sự phát triển nhanh chóng của toàn cầu hóa trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… làm nảy sinh yêu cầu phải có nguồn nhân lực chất lượng cao toàn cầu có khả năng chuyên môn và kiến thức sâu rộng” [103. Bài viết cũng đặc biệt nhấn mạnh vai trò to lớn của giáo dục đại học, cao đẳng trong việc đào tạo, phát triển NNLCLC cho xã hội. Đồng thời, xác định những tiêu chí cụ thể đối với NNLCLC toàn cầu: phải là những người có thể hoạt động trong môi trường quốc tế, ứng phó với với toàn cầu; có năng lực tư duy logic cao; có khả năng thúc đẩy việc hiểu biết sâu sắc nền văn hóa của mình và các nền văn hóa khác trên thế giới; có năng 15 lực giao tiếp liên văn hóa bằng ngoại ngữ; có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, có năng lực chuyên môn tốt.Ravikumar, Gustavo Ventura (2016), “Talent, Labor Quality and Economic Development” (Tài năng, chất lượng lao động và phát triển kinh tế) [161.], đã thực hiện đo lường và rút ra tầm quan trọng của chất lượng lao động.
Bài viết đã phát triển lý thuyết về chất lượng lao động dựa trên sự phân công lực lượng lao động phổ thông và lao động có kỹ năng, đầu tư vào lao động có kỹ năng. Nghiên cứu của bài viết cho thấy, các quốc gia có sự khác nhau ở hai khía cạnh: tài năng và TFP (năng suất nhân tố tổng hợp). Các nhà nghiên cứu đã tiến hành đo lường tài năng bằng cách sử dụng các mức thành tích quan sát được từ các điểm số của Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Pissa) và nhận thấy, chất lượng lao động ở các nước giàu cao gấp đôi so với chất lượng lao động ở các nước nghèo. Điều đó giải thích cho sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia và tác động của nó đến sự phát triển kinh tế.
Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao trong nông nghiệp E.Wayne Nafziger (1998), Kinh tế học của các nước đang phát triển [86.], đã có những nghiên cứu rất quan trọng về chuyển dịch cơ cấu NNL và giải quyết việc làm trong chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn ở các nước đang phát triển. Bài viết đã tập trung phân tích các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên, đất đai và khí hậu; sự nghèo đói ở nông thôn và chuyển đổi nông nghiệp; việc làm, di cư và đô thị hóa; dân số và phát triển.