Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VIỆC NÂNG CAO NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN CHẤT LƯỢNG CAO 1. LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1. Nguồn nhân lực (NNL) Nguồn nhân lực (NNL) được hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi để chỉ vai trò và vị trí con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội.
Ở nước ta, khái niệm “nguồn nhân lực” được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội. Với cách nhìn này, NNL được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự phát triển của xã hội. Thủ tướng Phan Văn Khải từng khẳng định trong buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo thành phố Hà nội đăng trên web “ dân trí ” rằng : “Nguồn nhân lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động trong tổ chức đó.
Bao gồm tất cả các cá nhân tham gia bất kỳ hoạt động nào của tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất.Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội ( tầm vĩ mô) và quyết định sự phát triển, thành công hay thất bại của một tổ chức (vi mô ) Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực vì có cách tiếp cận khác nhau nhưng có một điểm chung đó là NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục 8 tiêu của tổ chức.Từ quan niệm chung đó có thể thấy, NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức Cho đến nay, khái niệm nguồn lực con người (hay nguồn nhân lực) đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc cho rằng nguồn nhân lực bao hàm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Một số nhà khoa học của Việt Nam thì cho rằng nguồn nhân lực “được hiểu là số dân và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động.
Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó”. Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực của một đất nước được đánh giá trên hai mặt chủ yếu là số lượng và chất lượng. số lượng nguồn nhân lực được đánh giá bằng các chỉ tiêu: tỉ lệ nguồn nhân lực trong dân số; tỉ lệ lực lượng lao động trong dân số; tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của người trong độ tuổi lao động; tỉ lệ lao động có việc làm trong lực lượng lao động… Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới.
Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Theo Giáo sư viện sĩ Phạm Minh Hạc: “nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực cho tương lai”. Theo tiến sĩ Đoàn Khải: “nguồn lực con người là khái niệm chỉ dân số, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả các đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội”.
9 Dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, nhưng nhìn chung đều thống nhất về nội dung cơ bản là: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất xã hội, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi nói tới NNL phải hiểu đó là toàn bộ những người lao động có khả năng tham gia lao động, bao gồm tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và tác phong lao động. Ngoài ra, phải nói tới cơ cấu của lao động gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề. Từ những phân tích trên, có thể hiểu NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn trong dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số. Nguồn nhân lực chất lượng cao (NNL CLC) NNL chưa phải là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. NNL với chất lượng thấp, số lượng đông trong nhiều trường hợp lại trở thành lực cản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, ngày nay người ta quan tâm đầu tư để nâng cao chất lượng NNL.
Con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển NNL là vấn đề trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn cho sự phồn vinh, thịnh vượng của đất nước. Đầu tư cho con người là đầu tư chiến lược, là cơ sở cho sự phát triển bền vững.
Có nhiều cách hiểu khác nhau khi nói về phát triển NNL. Theo quan niệm của Liên Hiệp Quốc, phát triển NNL bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng NNL. Một quan điểm khác cho rằng: phát triển NNL là gia tăng giá trị cho con người cả về giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho họ trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội. 10 Một số tác giả lại quan niệm: phát triển NNL là nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất NNL thông qua hệ thống phân công lao động xã hội và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội.
Từ đó có thể hiểu phát triển NNL chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng NNL trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL. Như vậy, phát triển NNL với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn đề chất lượng NNL và khía cạnh xã hội của NNL của một quốc gia. Phát triển NNL thực chất là muốn nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (lao động kỹ thuật lành nghề, cao đẳng, đại học, trên đại học).
Nói đến chất lượng NNL là muốn nói đến tổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNL CLC là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lượng nhất. NNL CLC phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (cả trong nước và nước ngoài), do đó, NNL CLC phải có kiến thức chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tự tạo việc làm, làm việc an toàn; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc. Như vậy, NNL CLC phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, tính tích cực. NNL CLC có thể không cần đông về số lượng nhưng phải đi vào thực chất đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu về nhu cầu sử dụng lao động trong điều kiện mới.
Tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao 1. Chỉ số phát triển con người (HDI: Human Development Index) Quan điểm phát triển con người là sự phát triển vì con người, của con người và do con người. Nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho người dân và tạo 11 điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó. Những lựa chọn quan trọng nhất là được sống lâu và khỏe mạnh, được học hành và có cuộc sống ấm no.
Khi xét đến chất lượng NNL thì không thể tách rời những điều kiện phát triển con người. Có thể nói chất lượng NNL được thể hiện qua chỉ số phát triển con người (HDI). Đây là chỉ tiêu tổng hợp gồm 3 tiêu chí: Một là, mức độ phát triển kinh tế được xác định bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người hằng năm (thu nhập bình quân đầu người); Hai là, chỉ tiêu học vấn được xác định bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ đi học của các cấp giáo dục; Ba là, chỉ tiêu y tế được xác định bằng tuổi thọ bình quân của người dân. Cả ba tiêu chí trên đều có quan hệ với nhau, mỗi tiêu chí thể hiện một mặt của đời sống con người.
Theo Liên hiệp Quốc, chỉ số HDI mang giá trị từ 0 đến 1 gồm: Chỉ số thu nhập có giá trị bằng 1 khi GDP bình quân đầu người đạt 40.000 USD (theo sức mua tương đương); bằng 0 khi GDP bình quân đầu người đạt 160 USD/năm. Chỉ số học vấn bằng 1 khi 100% số người lớn (trên 15 tuổi) biết đọc, biết viết; bằng 0 khi 0% số người lớn biết đọc, biết viết.