Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Tây Ninh giữ vị trí trung tâm hành chính, kinh tế và văn hóa của tỉnh Tây Ninh, đồng thời là đô thị hạt nhân nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với tổng diện tích tự nhiên 4.032,61 km2 toàn tỉnh và đường biên giới dài 240 km giáp Campuchia. Trong giai đoạn 2015 - 2019, nền kinh tế thành phố đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân ấn tượng 20,52%/năm, trong đó ngành dịch vụ dẫn đầu với mức tăng bình quân 24,88%/năm, nâng quy mô giá trị dịch vụ từ 5.223,5 tỷ đồng năm 2015 lên 12.703,7 tỷ đồng vào năm 2019. Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế tăng nhanh từ 44,68% lên 51,51%, khẳng định vị thế mũi nhọn về thương mại và du lịch biên giới.

Mặc dù đạt được những bước tiến lớn về kinh tế, thành phố đang đối mặt với thách thức lớn về chất lượng nguồn nhân lực khi tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao vẫn chưa bắt kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành. Khoảng trống về lực lượng kỹ sư, chuyên gia quản trị và công nhân kỹ thuật bậc cao đang cản trở tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và làm giảm lợi thế cạnh tranh của địa phương. Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển nhân lực trên địa bàn Thành phố Tây Ninh giai đoạn 2015 - 2019, và đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược đến năm 2030. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp căn cứ khoa học giúp địa phương nâng cao chỉ số phát triển con người, tối ưu hóa năng suất lao động và hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm kết nối kinh tế năng động của vùng Đông Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết vốn con người của Gary Becker (đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1992), khẳng định đầu tư vào giáo dục và đào tạo mang lại tỷ suất sinh lợi xã hội cao hơn bất kỳ nguồn vốn vật chất nào. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng quan điểm của Karl Marx về lao động phức tạp, chỉ rõ lao động chất lượng cao là dạng lao động có giá trị gia tăng vượt trội và đòi hỏi chi phí đào tạo lớn hơn lao động giản đơn. Khung phân tích tích hợp tiêu chuẩn đánh giá của Liên Hợp Quốc thông qua Chỉ số phát triển con người với 3 trụ cột cơ bản: mức thu nhập bình quân (tương đương chuẩn 40.000 USD sức mua tương đương), trình độ học vấn (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học) và sức khỏe y tế (tuổi thọ kỳ vọng cùng chỉ số khối cơ thể).

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Nguồn nhân lực là tổng thể thể lực, trí lực và tâm lực của lực lượng lao động sẵn có; Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận lao động tinh túy, sở hữu trình độ chuyên môn kỹ thuật từ bậc cao đẳng, đại học, sau đại học trở lên, có tư duy sáng tạo và tác phong công nghiệp chuyên nghiệp; Chỉ số phát triển giáo dục cho mọi người đo lường hiệu quả tiếp cận tri thức toàn diện, trong đó Việt Nam đạt 0,899 điểm theo chuẩn UNESCO năm 2018.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê Thành phố Tây Ninh (2015 - 2019), Báo cáo điều tra dân số và nhà ở năm 2018 - 2019 của Cục Thống kê, cùng các báo cáo chuyên đề của các Sở, ban, ngành trên địa bàn. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực tế với cỡ mẫu 350 phiếu điều tra đối với cán bộ, công chức, chuyên gia kỹ thuật và đại diện doanh nghiệp tại 9 đơn vị hành chính của thành phố. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả khối hành chính công, cơ sở giáo dục và khối doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh chuỗi thời gian 5 năm và phương pháp chuyên gia. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm làm rõ xu hướng biến động cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn, đối chiếu sự tương thích giữa năng lực cung ứng của hệ thống giáo dục với nhu cầu sử dụng thực tế của nền kinh tế, từ đó tạo tiền đề vững chắc cho việc dự báo nhân lực đến năm 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kinh tế thành phố tăng trưởng vượt bậc nhưng khoảng cách kỹ năng nhân lực vẫn hiện hữu rõ nét. Tổng sản phẩm quốc nội của Thành phố Tây Ninh duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 20,52%/năm giai đoạn 2015 - 2019. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 5.867,5 tỷ đồng lên 10.996,1 tỷ đồng (tăng 5.128,6 tỷ đồng, gần gấp 2 lần sau 5 năm), trong khi khu vực dịch vụ tăng mạnh từ 5.223,5 tỷ đồng lên 12.703,7 tỷ đồng (tăng 7.480,2 tỷ đồng). Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ kỹ thuật cao chỉ tăng nhẹ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu vận hành các dự án thương mại và công nghệ hiện đại.

Quy mô dân số tăng chậm, tạo áp lực lớn lên nguồn cung lao động tại chỗ. Dân số toàn tỉnh đạt khoảng 1,168 triệu người vào năm 2019, tăng thêm 102.652 người sau 10 năm, với tỷ lệ tăng dân số bình quân chỉ đạt 0,92%/năm (thấp hơn mức trung bình 1,14%/năm của cả nước). Mật độ dân số năm 2019 đạt 289 người/km2. Dân số thành thị của toàn tỉnh chỉ chiếm 17,72% (khoảng 207.186 người), phản ánh tỷ lệ đô thị hóa còn khiêm tốn và nguồn nhân lực trình độ cao phân bố không đồng đều.

Cơ cấu đào tạo chưa cân đối giữa các bậc học. Số lượng lao động có trình độ đại học trở lên tăng nhanh nhưng thiếu hụt trầm trọng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và kỹ thuật viên trung cấp. Tình trạng này dẫn đến hiện tượng vừa thừa lao động lý thuyết vừa thiếu lao động thực hành thao tác máy móc chuyên sâu tại các cụm công nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các tồn tại trên xuất phát từ việc hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại địa phương chưa bắt kịp tốc độ chuyển dịch kinh tế 24,88%/năm của ngành dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó, chính sách thu hút nhân tài của thành phố thời gian qua chưa đủ sức cạnh tranh về mức thu nhập và điều kiện nhà ở so với các trung tâm lớn như Thành phố Hồ Chí Minh hay Bình Dương.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Singapore duy trì quy định bắt buộc mỗi công chức phải tham gia đào tạo 100 giờ/năm và hỗ trợ 50% học phí tự học, trong khi Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng cơ chế ưu đãi mua nhà chung cư và trợ cấp gia đình để thu hút chuyên gia giỏi. Thành phố Tây Ninh hiện vẫn thiếu các gói kích cầu tài chính tương tự để giữ chân nhân lực chất lượng cao.

Để phản ánh trực quan các phát hiện trên, dữ liệu có thể được thể hiện qua biểu đồ cột chồng kết hợp đường xu hướng thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu GDP giai đoạn 2015 - 2019 (nông nghiệp giảm từ 5,13% xuống 3,91%, dịch vụ tăng từ 44,68% lên 51,51%) song song với bảng thống kê cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật để làm nổi bật sự chênh lệch cung - cầu lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

Đổi mới chương trình giáo dục và đào tạo nghề: UBND Thành phố Tây Ninh phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành quy hoạch lại mạng lưới cơ sở dạy nghề; đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật lên trên 75%, trong đó tỷ lệ có trình độ đại học và sau đại học đạt tối thiểu 25%, tập trung vào các ngành du lịch chất lượng cao, công nghệ thông tin và logistics.

Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài: Ban Thường vụ Thành ủy và HĐND Thành phố ban hành nghị quyết chuyên đề về chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao giai đoạn 2021 - 2030; mục tiêu tuyển dụng và thu hút tối thiểu 500 chuyên gia, thạc sĩ, tiến sĩ và kỹ sư đầu ngành về công tác tại các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp trọng điểm, đi kèm chính sách hỗ trợ 100% kinh phí nhà ở công vụ trong 3 năm đầu làm việc.

Thúc đẩy liên kết ba nhà giữa chính quyền, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo: UBND Thành phố chỉ đạo thiết lập cổng thông tin dự báo cung - cầu nhân lực; định kỳ hàng năm tổ chức ngày hội việc làm, phấn đấu đến năm 2030 giải quyết việc làm mới cho khoảng 6.000 lao động có tay nghề cao mỗi năm và duy trì tỷ lệ thất nghiệp thành thị ở mức dưới 1,5%.

Nâng cao thể chất, y tế và xây dựng tác phong công nghiệp: Sở Y tế phối hợp với Liên đoàn Lao động Thành phố triển khai đề án chăm sóc sức khỏe toàn diện và rèn luyện kỷ luật lao động; hướng tới mục tiêu 85% lực lượng lao động đạt chỉ số thể lực BMI chuẩn và 100% cán bộ, công chức hoàn thành tối thiểu 100 giờ bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu mỗi năm vào năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Tây Ninh: Khai thác bức tranh thực trạng kinh tế với tốc độ tăng trưởng 20,52%/năm để xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực và chiến lược kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2021 - 2030.

Ban giám hiệu các trường đại học, cao đẳng và cơ sở dạy nghề: Ứng dụng số liệu dịch chuyển cơ cấu dịch vụ (chiếm 51,51% GDP) để điều chỉnh chương trình đào tạo, mở thêm các chuyên ngành kỹ thuật thực hành và quản trị du lịch bám sát thị trường.

Doanh nghiệp và nhà đầu tư tại khu vực Đông Nam Bộ: Sử dụng dữ liệu phân tích dân số (mật độ 289 người/km2) và thực trạng cung - cầu lao động để lập kế hoạch tuyển dụng, đào tạo nội bộ và định hình chính sách giữ chân nhân tài.

Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế: Tham khảo mô hình lý thuyết vốn con người, khung đánh giá chỉ số phát triển con người HDI cùng phương pháp nghiên cứu thực chứng tại một đô thị cửa ngõ biên giới.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao Thành phố Tây Ninh cần cấp bách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao? Nền kinh tế thành phố đang dịch chuyển mạnh mẽ sang thương mại và dịch vụ với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 20,52%/năm giai đoạn 2015 - 2019. Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết để hấp thụ vốn đầu tư, đổi mới công nghệ và phát huy vai trò đô thị động lực của vùng Đông Nam Bộ.

Chỉ số nào phản ánh chất lượng nguồn nhân lực trong luận văn? Luận văn nhấn mạnh tiêu chí trí tuệ thông qua trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng, đại học đến sau đại học. Đồng thời, nghiên cứu tham chiếu Chỉ số phát triển con người HDI (Việt Nam đạt 0,693 năm 2018) và Chỉ số EDI của UNESCO (Việt Nam đạt 0,899 điểm) để đánh giá sự phát triển toàn diện.

Thách thức lớn nhất về dân số ảnh hưởng đến nguồn nhân lực thành phố là gì? Tốc độ tăng dân số bình quân của địa phương giai đoạn 2009 - 2019 chỉ đạt 0,92%/năm, thấp hơn mức 1,14%/năm của cả nước. Dân số thành thị toàn tỉnh chỉ chiếm 17,72% (207.186 người), dẫn đến nguồn cung lao động kỹ thuật cao tại chỗ còn hạn hẹp, đòi hỏi phải có chính sách thu hút ngoại lực.

Kinh nghiệm quốc tế nào được luận văn đề xuất áp dụng cho Tây Ninh? Luận văn đề xuất học tập mô hình đào tạo bắt buộc 100 giờ/năm cho công chức của Singapore kết hợp chính sách ưu đãi nhà ở và phụ cấp theo năng lực của Thành phố Hồ Chí Minh, giúp tạo động lực tự học và thu hút chuyên gia giỏi về địa phương công tác lâu dài.

Mục tiêu cốt lõi về phát triển nhân lực của thành phố đến năm 2030 là gì? Thành phố đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật lên trên 75%, hạ tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống dưới 1,5%, đồng thời thu hút tối thiểu 500 chuyên gia và nhà khoa học đầu ngành để phục vụ các dự án trọng điểm.

Kết luận

  • Nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực then chốt quyết định sự thành công của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh cho Thành phố Tây Ninh.
  • Giai đoạn 2015 - 2019 ghi nhận sự bứt phá kinh tế với mức tăng trưởng GDP 20,52%/năm, quy mô ngành dịch vụ đạt 12.703,7 tỷ đồng, tạo ra nhu cầu cấp thiết về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là hệ thống hóa khung lý thuyết vốn con người, làm rõ các bất cập trong cơ cấu đào tạo tại chỗ và xây dựng lộ trình giải pháp toàn diện đến năm 2030.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền thành phố triển khai ngay các đề án liên kết đào tạo ba nhà và ban hành gói cơ chế thu hút tối thiểu 500 chuyên gia, kỹ sư đầu ngành giai đoạn 2021 - 2030.
  • Các nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp và cơ sở đào tạo hãy chủ động phối hợp thực hiện các giải pháp phát triển nhân lực để xây dựng Thành phố Tây Ninh thành trung tâm kinh tế - dịch vụ văn minh, hiện đại.