Chương 1: Cơ sở lý luận v thực tiễn về phát triển nguồn lực thông tin số tại Thư viện Trường Đại học Dược Nội Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn lực thông tin số tại Thư viện Trường Đại học Dược Nội Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn lực thông tin số tại Thư viện Trường Đại học Dược Nội 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN SỐ TẠI THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nguồn lực thông tin số 1.1 Một số khái niệm liên quan đến phát triển nguồn lực thông tin số Mỗi khi nhắc đến thư viện, điều đầu tiên người ta thường nghĩ đến là tài liệu, vốn tài liệu của thư viện. Vậy tài liệu, vốn tài liệu của thư viện là gì? Theo pháp lệnh Thư viện năm 2000: Tài liệu là một dạng vật chất đã ghi nhận những thông tin ở dạng thành văn, âm thanh, hình ảnh nhằm mục đích bảo quản và sử dụng còn Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu được sưu tầm, tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo quy tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt hiệu quả cao và được bảo quản [33, tr. Nếu như trước đây thư viện chủ yếu chỉ có tài liệu ghi trên giấy (gọi chung là tài liệu truyền thống) thì ngày nay xuất hiện ngày càng nhiều tài liệu ghi trên các vật mang tin khác nhau như: băng t , đĩa t , CD-ROM, vi phim, vi phiếu, bộ nhớ máy tính, cơ sở dữ liệu (CSDL),… T đó cũng xuất hiện nhiều thuật ngữ, khái niệm mới như: tài liệu điện tử, tài liệu số, thư viện điện tử, thư viện số, bộ sưu tập số, CSDL, NLTT điện tử, NLTTS,… Vậy thông tin điện tử, thông tin số là gì? Muốn biết thông tin điện tử, thông tin số là gì trước hết ta phải hiểu thông tin là gì? Trong cuốn Thông tin học Đoàn Phân Tân đã định nghĩa thông tin theo hai quan điểm: Theo quan điểm triết học: thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn t , ký hiệu, hình ảnh, v.v…hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người [37, tr.14]; Theo nghĩa hiểu thông thường: thông tin là tất cả sự việc, sự kiện, tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người [37, tr. Nói tóm lại thông tin là cái giúp ta hiểu rõ hơn bản chất của các sự vật, hiện tượng [35, tr.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các thông tin này được lưu giữ trên các vật mang tin khác nhau mà những người làm công tác thư viện vẫn quen gọi là tài liệu [41, tr. - Khái niệm thông tin điện tử”: thông tin điện tử là thông tin được tạo ra, được lưu trữ và được phổ biến bằng các phương tiện điện tử (là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, t tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện t hoặc công nghệ tương tự) [42, tr.12] - Khái niệm “thông tin số: thông tin số là thông tin được biểu diễn dưới dạng kỹ thuật số, được xử l , lưu trữ và truy cập trên máy tính, mạng máy tính hay các thiết bị hiện đại khác. - Khái niệm “t i liệu điện tử”: theo định nghĩa của Lưu trữ Quốc gia Mỹ, tài liệu điện tử là tài liệu chứa đựng thông tin số, biểu đồ và thông tin dạng văn bản có thể ghi lại trên bất kỳ vật mang bằng máy nào (nghĩa là chứa thông tin được ghi lại ở dạng chỉ có thể xử lý khi có sự trợ giúp của máy tính) [7, tr.9] - Khái niệm “t i liệu số”: Tài liệu số được hiểu là tài liệu chứa các thông tin được biểu diễn dưới dạng kỹ thuật số, được xử l , lưu trữ và truy cập, phổ biến trên máy tính, mạng máy tính và các thiết bị hiện đại khác. Như vậy có thể thấy, khái niệm tài liệu điện tử và tài liệu số là đồng nhất với nhau.
Điều này cũng đã được tác giả Phạm Văn Rính, Nguyễn Viết Nghĩa khẳng định trong cuốn Phát triển vốn tài liệu trong thư viện v cơ quan thông tin : khái niệm tài liệu điện tử (electronic document) và tài liệu số hóa (digital document) được dùng để chỉ cùng một đối tượng là thông tin ghi trên các vật mang tin điện tử. Hai khái niêm này đồng nhất về mặt ngữ nghĩa. Trong luận văn này, tác giả thống nhất dùng khái niệm tài liệu số. - Khái niệm “thư viện điện tử”: thư viện điện tử là một khái niệm chưa được định nghĩa thống nhất và còn nhiều tranh luận, đôi khi dùng lẫn lộn và đồng nghĩa với các khái niệm Thư viện không biên giới , Thư viện được nối mạng , Thư viện số , Thư viện ảo , Thư viện tin học hóa , Thư viện đa phương tiện , Thư viện lôgích , 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thư viện văn phòng ,… [4, tr.
Dù được định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu theo nghĩa chung nhất: thư viện điện tử là loại hình thư viện đã được tin học hóa toàn bộ hoặc một phần hoạt động của mình; ở đó người sử dụng có thể tới để thực hiện những công việc mà họ vẫn thường làm với thư viện truyền thống nhưng đã được tin học hóa; và các phương tiện điện tử được sử dụng trong thu thập, lưu trữ, xử lý, tìm kiếm và phổ biến thông tin; vốn tài liệu của thư viện điện tử bao gồm cả tài liệu truyền thống và tài liệu điện tử. - Khái niệm thư viện số”: đến nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thư viện số: có ý kiến cho rằng thư viện số là một bước tiến xa hơn của thư viện điện tử, là thư viện điện tử cấp cao; có ý kiến cho rằng thư viện điện tử bao hàm thư viện số; có ý kiến lại cho rằng thư viện số và thư viện điện tử là một. Qua các định nghĩa khác nhau có thể hiểu khái quát: thư viện số là thư viện có các bộ sưu tập số được quản trị, truy cập và khai thác thông qua hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông. - Khái niệm “bộ sưu tập số”: bộ sưu tập số là một tập hợp có tổ chức các tài liệu số theo một chủ đề nhất định.
Các tài liệu số này có thể được thể hiện dưới nhiều định dạng khác nhau như: văn bản, hình ảnh, âm thanh, video,… nhưng đều có thể truy cập qua một giao diện đồng nhất qua đó người dùng tin có thể truy cập, tìm kiếm dễ dàng thông qua máy tính, mạng máy tính hay các thiết bị hiện đại khác. - Khái niệm “cơ sở dữ liệu”: CSDL là một tập hợp các dữ liệu có cấu trúc và liên quan với nhau, được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ thông tin thứ cấp (băng t , đĩa t , CD-ROM, bộ nhớ máy tính…) và được tổ chức theo một mô hình nhất định nhằm thỏa mãn yêu cầu khai thác thông tin đồng thời của nhiều người sử dụng cùng một lúc. - Khái niệm nguồn lực thông tin” (information resources): đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau. Theo nghĩa rộng, NLTT được coi là mọi tiềm lực của một cơ quan TT - TV, bao gồm vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng CNTT và đội ngũ cán bộ nhằm đảm bảo cho hoạt động TT - 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TV của cơ quan/tổ chức đó.
Theo nghĩa hẹp, NLTT được hiểu tương đương với vốn tài liệu của thư viện, là tổ hợp tất cả các loại hình tài liệu, dữ liệu của cơ quan TT - TV được tổ chức, bảo quản và phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu của NDT. Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm NLTT theo hướng nghĩa hẹp. Tương tự như vậy, tác giả luận văn cho rằng: “nguồn lực thông tin số” (digital information resources) là tập hợp tất cả các loại hình tài liệu, dữ liệu dưới dạng số của cơ quan TT - TV được tổ chức, bảo quản và phổ biến thông qua máy tính, mạng máy tính hoặc các thiết bị hiện đại khác nhằm đáp ứng NCT của NDT. - Khái niệm phát triển nguồn lực thông tin số : Theo quan điểm triết học, phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất, là quá trình vận động tiến lên t đơn giản đến phức tạp, t thấp đến cao, t kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật hiện tượng.
Theo T điển Tiếng Việt, phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi t ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp, làm cho tốt hơn lên … [38, tr. Như vậy, theo tác giả luận văn: Phát triển NLTTS là quá trình làm cho NLTTS biến đổi, tăng trưởng cả về lượng và chất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin trong một khoảng thời gian nhất định.2 Đặc trưng của nguồn lực thông tin số Ngoài những đặc điểm chung vốn có của NLTT truyền thống, NLTTS còn mang những đặc trưng nổi bật sau đây: - NLTTS phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức NLTTS có nội dung rất phong phú với khả năng trình bày thông tin đa dạng: văn bản, hình ảnh, âm thanh, video,…nên rất hấp dẫn, sinh động, dễ hiểu và dễ tiếp nhận. Về mặt hình thức, NLTTS tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau như: sách điện tử (e-book), báo - tạp chí điện tử (e-journal), luận văn - luận án, bài giảng điện tử, CSDL,… 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - NLTTS có mật độ thông tin cao, khả năng lưu trữ lớn Do những tiến bộ của ngành CNTT, đặc biệt là công nghệ n n và lưu trữ thông tin trên các vật mang tin t tính, quang học, kỹ thuật số, … nên mật độ thông tin ghi trên các vật mang tin này rất cao, do đó dung lượng thông tin lưu trữ trên chúng cũng rất lớn. - NLTTS có khả năng đa truy cập Một là, khả năng tra tìm thông tin đồng thời theo nhiều dấu hiệu khác nhau như tìm theo các yếu tố mô tả thư mục thông thường (nhan đề, tác giả, năm xuất bản, t khóa,…) bằng việc kết hợp các toán tử Bool, các toán tử thu gọn hoặc tìm theo liên kết tới các nguồn tài liệu tham khảo, trích dẫn.
Hai là, khả năng truy cập t xa trong mọi điều kiện không gian, thời gian.