Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về NHĐT Chương 3: Thực trạng hoạt động nghiệp vụ NHĐT tại NSI Chương 4: Định hướng và các giải pháp xây dựng mô hình NHĐT tại NSI 4 Chương 2.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ 2. Tổng quan NHĐT 2. Khái niệm Thuật ngữ “Ngân hàng đầu tư” (Investment Bank) thường được áp dụng cho một tổ chức thực hiện một số chức năng và dịch vụ trung gian tài chính chuyên biệt. NHĐT theo quan điểm truyền thống được hiểu là một định chế “trung gian” với chức năng chính là tư vấn và thực hiện huy động nguồn vốn cho khách hàng (bao gồm các tổ chức, doanh nghiệp cũng như chính phủ).
Các nguồn vốn trên thị trường vốn chủ yếu mang tính chất trung và dài hạn trong khi các nguồn vốn ngắn hạn thường được huy động trên thị trường tiền tệ. NHĐT đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm cùng với sự hình thành của thị trường vốn trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ và châu Âu. Cùng với quá trình phát triển không ngừng với xu hướng chung của thị trường tài chính, quá trình mua bán, sáp nhập giữa các NHĐT đã dẫn đến sự thay đổi của các tên tuổi lớn trên thế giới theo thời gian. Những năm đầu thập kỷ 1970, các tên tuổi ngân hàng đầu tư nổi tiếng có thể kể đến là Morgan Stanley, First Boston (Credit Suisse mua lại vào năm 1988, nay là Credit Suisse), Kuhn Loeb (Lehman Brothers mua lại vào năm 1977 và nay là Lehman Brothers), Dillon Read (Swiss Banking Corporation (SBC) mua lại 1997 và nay là một phần của UBS khi SBC sáp nhập với UBS).
Hệ thống các NHĐT thế giới được chia thành hai nhóm chính: (i). Các NHĐT độc lập có tên tuổi lớn trên thế giới có thể kể đến như Goldman Sachs, Merrill Lynch, Morgan Stanley,… (ii). Nhóm các ngân hàng tổng hợp bao gồm Citi Group, J.P Morgan Chase, Deutsche Bank, UBS, Credit Suisse,… đã và đang dần khẳng định vị trí của mình trên thị trường tài chính thế giới. Trong quá trình phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn cần các nguồn vốn, đặt biệt các nguồn vốn trung và dài hạn.
Tương tự như vậy, các chính phủ cũng cần huy động các nguồn vốn nhàn rỗi để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước, đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng hay đầu tư cho y tế, giáo dục, văn hóa. Thậm chí khi các chính phủ không bị thâm hụt ngân sách, họ vẫn phát hành trái phiếu để tái tài trợ các khoản nợ phát hành trước đây nay đến hạn thanh toán. Thay vì 5 tìm kiếm các nguồn vay ngắn hạn trên thị trường tiền tệ qua kênh ngân hàng thương mại với các điều kiện vay vốn ngặt nghèo hoặc mức lãi suất không hấp dẫn, các doanh nghiệp và chính phủ có thể tìm kiếm các nguồn vốn trung dài hạn trên thị trường vốn. NHĐT xuất hiện làm nhiệm vụ giúp các doanh nghiệp, chính phủ phát hành các loại chứng khoán ra thị trường nhằm huy động các nguồn vốn cần thiết.
Các loại chứng khoán phát hành có thể bao gồm cổ phiếu (chứng khoán vốn) hoặc trái phiếu (chứng khoán nợ). Do vậy, NHĐT đóng vai trò là một chủ thể trung gian quan trọng của nền kinh tế hoạt động trên thị trường vốn. NHĐT cũng là tổ chức đứng giữa các chủ thể cung và cầu vốn, giúp cho cung và cầu vốn có thể gặp nhau dễ dàng hơn. Do đó NHĐT còn được gọi là định chế tài chính bán trung gian.
Trong vài thập kỷ gần đây, trước sự toàn cầu hóa của thị trường tài chính, nhiều NHĐT đã bổ sung các hoạt động với nhiều sản phẩm và dịch vụ tài chính bổ sung được gọi là NHĐT toàn cầu và được coi là một nhân tố thiết yếu không chỉ của hệ thống tài chính mà còn của toàn bộ nền kinh tế. NHĐT là ngân hàng chuyên hoạt động trên thị trường vốn- thị trường tài chính trung và dài hạn với vai trò giúp các doanh nghiệp và chính phủ huy động vốn trung và dài hạn thông qua phát hành chứng khoán. Chức năng và vai trò của NHĐT NHĐT tham gia vào giai đoạn đầu, chịu trách nhiệm làm việc với các tập đoàn, công ty, chính phủ cần vốn để bắt đầu kinh doanh, mở rộng nhà máy và xây dựng trường học hoặc hệ thống hạ tầng cơ sở… thông qua thực hiện một số các chức năng: (+) Huy động vốn: giúp các công ty và tổ chức tạo ra tiền từ các nhà đầu tư, thường được thực hiện bằng cách bán cổ phiếu hoặc trái phiếu; (+) Tư vấn tài chính: để giúp một công ty hoặc chính phủ đưa ra quyết định về quản lý các nguồn tài chính, thực hiện tư vấn mua bán và sáp nhập (M&A); (+) Cho vay doanh nghiệp: giúp các bên đi vay lớn khác bán chứng khoán để huy động tiền. Nhưng các NHĐT lớn cũng thường xuyên tham gia vào việc mở rộng các khoản vay cho khách hàng, thường là các khoản vay ngắn hạn để thúc đẩy/ mở rộng mảng hoạt động khác của công ty; (+) Thực hiện giao dịch: mua và bán cổ phiếu và các công cụ tài chính khác, 6 thay mặt cho khách hàng hoặc sử dụng tiền của chính họ; (+) Dịch vụ môi giới: trên cơ sở có thể nắm giữ tài sản của khách hàng hoặc giúp khách hàng thực hiện các giao dịch; (+) Nghiên cứu: không chỉ giúp các tổ chức lớn bán chứng khoán cho các nhà đầu tư mà còn hỗ trợ các nhà đầu tư muốn mua chứng khoán; (+) Đầu tư: thường đóng vai trò như một trung gian giữa các đối tượng cần tiền và đối tượng có tiền.
NHĐT cũng có thể đầu tư tiền của mình vào các công ty hoặc dự án có triển vọng. Loại đầu tư này, thường được thực hiện vào các công ty không có các khoản đầu tư mà công chúng có thể mua, được gọi là vốn cổ phần tư nhân hay thực hiện phát hành riêng lẻ. Các ngân hàng truyền thống về cơ bản cũng làm điều tương tự như các NHĐT đó là nhận tiền gửi từ những người gửi tiết kiệm với lượng tiền mặt dư thừa và cho người vay mượn tiền. Các loại hình ngân hàng truyền thống chủ yếu là ngân hàng thương mại (chủ yếu giao dịch với các doanh nghiệp) và ngân hàng bán lẻ (chủ yếu giao dịch với cá nhân).
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa ngân hàng truyền thống và NHĐT là cách tiền được chuyển giữa những người và các tổ chức cần nó và những người có nó. Thay vì thu tiền gửi từ người gửi tiết kiệm như các ngân hàng truyền thống, các NHĐT thường dựa vào việc bán các công cụ tài chính trong một quy trình được gọi là bảo lãnh phát hành, huy động số tiền cung cấp cho đối tượng có mục đích sử dụng hiệu quả. Mặt khác, các NHĐT có thể tự do nắm bắt cơ hội lớn hơn thông qua tìm kiếm các công cụ tài chính mới với đội ngũ chuyên nghiệp và hiểu biết rủi ro tốt hơn. Các NHĐT cũng có vai trò lớn trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán và sáp nhập, góp vốn cổ phần tư nhân và tái cơ cấu doanh nghiệp.
Không giống như các ngân hàng truyền thống, các NHĐT không chấp nhận tiền gửi và cung cấp các khoản vay cho các cá nhân. Vai trò chính của các NHĐT là bán chứng khoán bao gồm: ✓ Vốn chủ sở hữu: NHĐT giúp các công ty huy động tiền bằng cách bán cổ phần sở hữu, hoặc vốn chủ sở hữu trong công ty cho các nhà đầu tư bên ngoài. Sau khi chứng khoán được bán, người sở hữu được tự do mua hoặc bán chúng trên TTCK. Cổ phần lần đầu tiên được bán được gọi là phát hành lần đầu ra công chúng (IPO); 7 ✓Vốn nợ: Một số nhà đầu tư không quan tâm đến việc sở hữu một phần của công ty, nhưng lại sẵn sàng cho vay với một mức giá nào đó.
Đó là vai trò của vốn nợ. Các NHĐT giúp các công ty vay tiền bằng cách phát hành trái phiếu, hoặc IOU (Giấy ghi nợ, khế ước nhận nợ), được bán cho các nhà đầu tư. Công ty phải trả lãi suất đã định trước, nhưng không từ bỏ bất kỳ quyền sở hữu nào đối với công ty. Trong trường hợp, nếu một công ty rơi vào thời kỳ khó khăn hay phá sản, các chủ sở hữu của khoản nợ có quyền đòi tài sản cao hơn so với chủ sở hữu vốn chủ sở hữu; ✓Chứng khoán hỗn hợp: Hầu hết NHĐT bán có thể được phân loại là nợ hoặc vốn chủ sở hữu.
Nhưng một số chứng khoán có những đặc điểm của cả hai, ví dụ là cổ phiếu ưu đãi, mang lại cho nhà đầu tư dòng thu nhập cao hơn những gì được trả trên vốn chủ sở hữu thông thường. Nhưng cổ phiếu ưu đãi không có khả năng đòi hỏi tài sản cao như trái phiếu và dòng thu nhập này có thể bị dừng trong một số trường hợp đặc biệt. Tầm quan trọng của NHĐT NHĐT ngày càng trở nên quan trọng trong thế kỷ 21, ngày càng nhiều công ty quan tâm đến cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn. NHĐT có chuyên môn để mang lại nhiều doanh thu nhất thông qua huy động vốn bằng cách đa dạng hóa các mô hình, sản phẩm tài chính trong khi vẫn tuân thủ luật pháp.
Các NHĐT đặc biệt thích hợp cho việc mua bán và sáp nhập. Nếu một công ty đang tìm cách thâu tóm đối thủ cạnh tranh, NHĐT thực hiện tư vấn tính toán giá trị hợp lý theo cách có lợi nhất cho khách hàng. Vai trò của NHĐT là rất quan trọng đối với các nền kinh tế toàn cầu và tăng trưởng kinh tế mỗi quốc gia. Càng nhiều ngân hàng loại này xuất hiện trong nền kinh tế thì càng tốt cho nền kinh tế bởi họ có đủ hiểu biết để giải quyết các thách thức kinh tế.
Nếu như trọng tâm của ngân hàng thương mại là bán hàng, cho vay, giao dịch và thanh toán nhưng một NHĐT đi sâu hơn thế, họ hỗ trợ vốn chủ sở hữu và hình thành vốn, giúp tạo ra tiêu dùng hiện tại và tương lai của quốc gia. Mỹ là nước đi đầu trong việc công nhận tầm quan trọng của NHĐT so với ngân hàng thương mại. Chính phủ cũng như các công ty nắm quyền chi phối đã dựa vào các NHĐT để huy động vốn trên cơ sở phát hành chứng khoán cho các nhà đầu tư, điều này bổ sung tính thanh khoản 8 cho thị trường. Doanh nghiệp không chỉ trở nên hiệu quả hơn mà còn phát triển nhanh chóng.