CHƯƠNG 1: TÓNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu, cơ SÔ LÝ LUẬN VÈ PHÁT TRIỂN DỊCH vụ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử cùa NHTM Nghiên cứu về “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử củaNHTM” đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau dưới các bài luận văn, luận án, bài nghiên cứu, bài báo. Tăng Thị Vân (2013) với nghiên cứu “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử NHTM, phân tích đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử với số liệu thứ cấp giai đoạn 2011-2013 và dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử.
Nguyễn Viết Nam (2018) với nghiên cứu “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Đông Hà Nội”, tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV chi nhánh Đông Hà Nội trong giai đoạn 2015-2017 và từ đó chỉ ra những hạn chế của hoạt động thanh toán ngân hàng điện tử, trên cơ sở đó đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của BIDV chi nhánh Đông Hà Nội. Nông Bích Ngọc (2018) với nghiên cứu “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên” tác giả đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử, phân tích đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử trong giai đoạn 2014- 2016 chỉ ra nhừng hạn chế và từ đó đề xuất bốn nhóm giải pháp cho Chi nhánh nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng. 4 Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử dưới khía cạnh là nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của khách hàng như: Lê Tấn Phước (2018) với nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng tới việc chấp nhận sử dụng ngân hàng điện tử của khách hàng tại NHTM Việt Nam, kết quả phân tích với mẫu 214 khách hàng đã chỉ ra rằng Ảnh hưởng xã hội, sự hiểu biết về dịch vụ và lợi ích của nó, mức độ tự tin vào khả năng sử dụng công nghệ, niềm tin vào hệ thống NHĐT, hình ảnh ngân hàng, nhận thức dề sử dụng và nhận thức hữu ích. Tuy nhiên nghiên cứu này dưới dạng bài báo đăng trên tạp chí với khía cạnh chấp nhận sử dụng ngân hàng điện tử.
Hay Đàm Văn Huệ, Bùi Thị Thùy Dương (2018) với nghiên cứu về ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, sử dụng phương pháp định tính kết hợp với định lượng và phân tích dữ liệu thu thập được từ khảo sát khách hàng ở khu vực Hà nội, Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 6 nhân tố có ảnh hường tới ý định sử dụng ngân hàng điện tử: hình ảnh nhà cung cấp, tính đồi mới, tính hữu ích - dễ sử dụng, cảm nhận rủi ro, ảnh hưởng xã hội, cảm nhận chi phí thấp và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự khác nhau về sự ảnh hưởng của các nhân tố ở các khách hàng có mức thu nhập, vùng miền khác nhau. Như vậy có nhiều nghiên cứu xung quanh vấn đề này, dưới các khía cạnh như phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử hay tìm nhân tố ảnh hưởng tới việc khách hàng sử dụng ngân hàng điện tử. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu Nghiên cứu về phát triển dịch vụ ngân hàng có một số nghiên cứu trước đây nghiên cứu với các khía cạnh dưới dạng bài luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, bài báo.
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử, thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở các ngân hàng và đề xuất giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên các nghiên cứu được thực hiện ở không gian, thời gian khác nhau và đặc điểm của mỗi ngân hàng cũng khác nhau nên không thế áp dụng kết quả nghiên cứu cho Vietcombank - Chi nhánh Sóc Sơn. Do đó, nghiên cứu của tác già “Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện 5 tử tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Sóc Sơn ” sẽ lâp đây khoảng trống nghiên cứu. Khái quát về dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm và đặc trưng của Ngân hàng thương mại a. Khái niệm NHTM Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 thì “NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tồ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”. Theo Luật Ngân hàng nhà nước thì “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”. Nhờ hoạt động của hệ thống NHTM mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.
Như vậy, theo tác giả Ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận. Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng đế cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Các đặc trưng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt có những đặc trưng cơ bản sau: 77zứ nhất, Ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền gừi: Trên thị trường tài chính, các NHTM là những trung gian tài chính đặc biệt. Hoạt động chù yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư giữa hai loại đối tượng cá nhân và tố chức thâm hụt chi tiêu, cá nhân và tố chức thặng dư trong chi tiêu.
Hoạt động này của Ngân hàng thương mại đưa doanh nghiệp này trở thành một cầu nối để kết nối những người có nhu cầu vay vốn phát triển với những người muốn cho vay. Người ta phân biệt NHTM với các tổ chức môi giới và tài chính khác là ở chỗ NHTM là ngân hàng kinh doan tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kỳ 6 hạn và cũng chính vì thê mà NHTM chủ yêu là câp tín dụng ngán hạn cho các tô chức kinh tế và cá nhân có nhu cầu cần bổ sung vốn. Thứ hai, hoạt động của NHTM gắn liền với hệ thống lưu thông tiền tệ, hệ thống thanh toán trong và ngoài nước. Trong khi thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, các NHTM đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương tiện thanh toán và điều đó đưa lại kết quả là đại bộ phận tiền giao dịch trong nền kinh tế đều qua ngân hàng.
Như vậy, với sự ra đời của NHTM, phần lớn các giao dịch mua bán trong xã hội đều được thực hiện thông qua hệ thống thanh toán của ngân hàng với những hình thức thanh toán phù hợp, nhanh chóng, thuận tiện. Nhờ vậy việc lưu thông hàng hóa trở nên nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn. Thứ ba, hoạt động của các NHTM luôn bị giám sát chặt chẽ và thường xuyên. Hoạt động của NHTM mang tính hệ thống cao và kinh doanh được thực hiện trên cơ sở “ niềm tin”.
Bởi vậy, nếu hệ thống NHTM hoạt động kinh doanh tốt thì hệ thống ngân hàng thực sự là mạch máu của nền kinh tế, góp phần giảm thiểu chi phí xã hội, tiết kiệm các nguồn lực và có vai trò lớn trong việc thực hiện các chính sách kinh tế quốc gia. Ngược lại, nếu các NHTM hoạt động kinh doanh không tốt thì có thể dẫn tới sự phá sản, thông thường khi đó sự đổ vỡ của ngân hàng mang tính hệ thống, lây lan và có ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống kinh tế - chính trị - xã hội. Do đó, ngân hàng là một trong những công cụ được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đồng thời lĩnh vực kinh doanh này luôn được giám sát chặt chẽ và thường xuyên ngăn chặn những hậu quả xấu do sự vi phạm hay hoạt động kinh doanh yếu kém cùa các NHTM gây ra. Thứ tư, hoạt động kinh doanh của các NHTM luôn tiềm ẩn rủi ro.
Rủi ro là vấn đề thường gặp ở bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào, song với tư cách là một trung gian tài chính, có các đặc điềm về đối tượng kinh doanh, về tính hệ thống .nên đặc trưng trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng chính là rủi ro cao hơn bội phần so với doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh khác, đồng thời rùi ro luôn mang tính dây chuyền trong hệ thống các NHTM. 7 Thứ năm, hoạt động của NHTM rât đa dạng và có phạm vi rộng. Tính cho đên thời điểm này thì NHTM và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng nhất trong thể chế tài chính của mỗi nước. Hoạt động của NHTM đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, trong khi các tố chức tài chính khác thường hoạt động trên một vài lĩnh vực hẹp và theo hướng chuyên sâu.
Dịch vụ ngân hàng của NHTM 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Trên thế giới, dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối. mà ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp và cá nhân. Hiện • nay,Z ở Việt • Nam chưa có một • tài liệu • nào định • nghĩa cụ• thề về dịch • vụ• ngân hàng.
Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm sau về dịch vụ ngân hàng: Dịclỉ vụ ngân hàng được hiểu là dịch vụ tài chính do ngân hàng cung cấp bao gồm dịch vụ huy động vốn, tín dụng, thanh toán, tài chính phái sinh, ngoại hối và các dịch vụ khác.