Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục hình thành năng lực ứng dụng công nghệ thông tin để dạy học môn lịch sử và địa lí trong đào tạo giáo viên tiểu học ở trường đh tây nguyên

Luận án tiến sĩ giáo dục nghiên cứu giáo dục hình thành năng lực ứng dụng công nghệ thông tin để dạy học môn lịch sử và địa lí trong, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Đại học Sư phạm Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

280
15
1

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Phát triển năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học Lịch sử Địa lý

Phát triển năng lực ứng dụng CNTT là một yêu cầu cấp thiết trong giáo dục hiện đại, đặc biệt trong dạy học Lịch sử và Địa lý. Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy học mà còn tạo hứng thú cho học sinh. Đối với giáo viên tiểu học, việc hình thành năng lực ứng dụng CNTT là một phần quan trọng trong quá trình đào tạo. Đại học Tây Nguyên đã xác định rõ vai trò của CNTT trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là trong các môn học như Lịch sử và Địa lý. Các biện pháp được đề xuất nhằm giúp giáo viên tiểu học có thể sử dụng hiệu quả các công cụ CNTT trong giảng dạy, từ đó cải thiện chất lượng giáo dục.

1.1. Cơ sở lý luận về ứng dụng CNTT trong dạy học

Ứng dụng CNTT trong dạy học được xem là một phương pháp hiện đại, giúp giáo viên truyền đạt kiến thức một cách sinh động và hiệu quả. Đối với môn Lịch sử và Địa lý, CNTT giúp học sinh tiếp cận các sự kiện lịch sử và hiện tượng địa lý một cách trực quan hơn. Năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên tiểu học bao gồm khả năng sử dụng các phần mềm, công cụ hỗ trợ giảng dạy, và khai thác tài nguyên số. Đại học Tây Nguyên đã xây dựng các chương trình đào tạo nhằm trang bị cho sinh viên những kỹ năng cần thiết để ứng dụng CNTT trong dạy học.

1.2. Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học tại Tây Nguyên

Tại Tây Nguyên, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục còn nhiều hạn chế do điều kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, Đại học Tây Nguyên đã nỗ lực cải thiện tình hình này bằng cách đưa CNTT vào chương trình đào tạo giáo viên tiểu học. Các khảo sát cho thấy, giáo viên tiểu học tại khu vực này đã bắt đầu sử dụng CNTT trong dạy học Lịch sử và Địa lý, nhưng hiệu quả chưa cao. Điều này đòi hỏi sự hỗ trợ từ các chương trình đào tạo chuyên sâu và các nguồn lực từ nhà trường.

II. Phương pháp dạy học và đào tạo giáo viên tiểu học

Phương pháp dạy học hiện đại đòi hỏi giáo viên phải có khả năng sử dụng linh hoạt các công cụ CNTT. Đại học Tây Nguyên đã xây dựng các chương trình đào tạo giáo viên tiểu học với trọng tâm là phát triển năng lực ứng dụng CNTT. Các phương pháp như Blended LearningMicro Teaching được áp dụng để giúp sinh viên làm quen với việc sử dụng CNTT trong giảng dạy. Đặc biệt, việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành giúp sinh viên có thể áp dụng ngay những kiến thức đã học vào thực tế giảng dạy.

2.1. Chương trình đào tạo giáo viên tiểu học

Chương trình đào tạo giáo viên tiểu học tại Đại học Tây Nguyên được thiết kế để đáp ứng yêu cầu của thời đại công nghệ. Các học phần về CNTT trong giáo dục được tích hợp vào chương trình, giúp sinh viên nắm vững các kỹ năng cần thiết. Ngoài ra, các hoạt động thực tập sư phạm cũng được tổ chức để sinh viên có cơ hội áp dụng CNTT trong dạy học Lịch sử và Địa lý. Điều này giúp sinh viên tự tin hơn khi bước vào nghề.

2.2. Đổi mới phương pháp giảng dạy

Đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những mục tiêu chính của Đại học Tây Nguyên. Việc sử dụng các công cụ CNTT như Google Classroom, Google Earth, và các phần mềm hỗ trợ giảng dạy khác giúp giáo viên tiểu học có thể tạo ra các bài giảng sinh động và hấp dẫn. Đặc biệt, trong dạy học Lịch sử và Địa lý, CNTT giúp học sinh dễ dàng hình dung các sự kiện và hiện tượng, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.

III. Cải thiện chất lượng dạy học thông qua CNTT

Cải thiện chất lượng dạy học là mục tiêu hàng đầu của Đại học Tây Nguyên trong việc ứng dụng CNTT. Các biện pháp như xây dựng tài liệu học tập điện tử, tổ chức các hoạt động trải nghiệm ngoài lớp, và sử dụng các công cụ hỗ trợ giảng dạy đã được triển khai. Những biện pháp này không chỉ giúp giáo viên tiểu học nâng cao năng lực ứng dụng CNTT mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực cho học sinh. Đặc biệt, trong dạy học Lịch sử và Địa lý, CNTT giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách trực quan và dễ hiểu hơn.

3.1. Xây dựng tài liệu học tập điện tử

Xây dựng tài liệu học tập điện tử là một trong những biện pháp hiệu quả để cải thiện chất lượng dạy học. Đại học Tây Nguyên đã triển khai việc xây dựng các tài liệu học tập trên nền tảng Google SitesGoogle Classroom. Những tài liệu này không chỉ giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận kiến thức mà còn giúp giáo viên tiểu học có thể sử dụng trong quá trình giảng dạy. Đặc biệt, trong dạy học Lịch sử và Địa lý, các tài liệu điện tử giúp học sinh có thể tự học và khám phá kiến thức một cách chủ động.

3.2. Tổ chức hoạt động trải nghiệm ngoài lớp

Tổ chức hoạt động trải nghiệm ngoài lớp là một phương pháp hiệu quả để giúp học sinh hiểu sâu hơn về các sự kiện lịch sử và hiện tượng địa lý. Đại học Tây Nguyên đã triển khai các hoạt động như tham quan bảo tàng, khảo sát địa lý, và các buổi thảo luận trực tuyến. Những hoạt động này không chỉ giúp học sinh có cái nhìn thực tế hơn về các vấn đề lịch sử và địa lý mà còn giúp giáo viên tiểu học nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Ngày nay, năng lực công nghệ thông tin nói chung, năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học nói riêng là xu thế tất yếu của nền giáo dục hiện đại. Nhiều người coi đó là một trong những năng lực cơ bản như làm tính và viết, đặc biệt đối với giáo viên trong bối cảnh dạy học trực tuyến và tác động của đại dịch Covid-19 (từ năm học 2019 - 2020). Xuất phát từ quan điểm việc hình thành năng lực ứng dụng CNTT để dạy học môn Lịch sử và Địa lí trong đào tạo giáo viên tiểu học phải dựa trên tìm hiểu các nguồn tài liệu liên quan đến quan điểm, nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành… nên trong chương này, luận án tập trung làm sáng tỏ lịch sử nghiên cứu qua hai nhóm tài liệu tiếp cận: (1) Những nghiên cứu về hình thành năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên ngành sư phạm; (2) Những nghiên cứu về năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học để dạy học môn Lịch sử và Địa lí. Những nghiên cứu về hình thành năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên ngành sư phạm 1.

Trên thế giới * Nghiên cứu về năng lực ứng dụng CNTT trong giáo dục - Về năng lực ứng dụng công nghệ thông tin Năng lực là thuật ngữ xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, được nhận diện trong các văn bản tiếng Anh, Pháp, Hà Lan với các từ “competence”, “competency”… và nhiều khái niệm lân cận khác như: khả năng/NL (Capability/ability), NL/NL thực hiện (competence), đặc tính (attribute), hiệu quả (effectiveness), thành thạo (proficiency) từ thế kỉ XVI. Đến những năm 70 của thế kỉ XX, trước sự phát triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ thông tin, NL đã được tập trung nghiên cứu và được coi là đích đến của giáo dục, đào tạo – Competency based education and training (CBET) nhằm trang bị cho người học kiến thức, kĩ năng, thái độ để thích nghi, hòa nhập với một xã hội hiện đại biến đổi nhanh chóng. Quan niệm về NL, cách phân loại và các thành phần NL được thể hiện rõ trong các nghiên cứu của 9 Rychen, Salganik [149], Mulder, Weigel & Collin [138]; nghiên cứu sâu về đánh giá NL có Griffin [117], và Miller [136]. Nghiên cứu và xác định các NL cốt lõi của thế kỉ XXI được đưa ra trong các nghiên cứu của David và Alexis [112], Ananiadou, Claro [100], trong chương trình đào tạo các nước… Gắn liền với sự ra đời của máy vi tính (thập niên 70 – XX), Internet (thập niên 80 – XX, kĩ năng sử dụng các phương tiện kĩ thuật, hay NL CNTT được xác định là một trong những chìa khóa thành công và là một NL cốt lõi của công dân thế kỉ XXI [100].

“Nếu trẻ em cần trở thành những người biết chữ và số, ngày nay họ cũng cần biết một vài thứ về máy tính” (If children need to become literate and numerate, today they need also to know something about computers) [121]. - Về NL ứng dụng CNTT của giáo viên Trong lĩnh vực giáo dục, NL ứng dụng CNTT được quan tâm nghiên cứu đặc biệt là NL ứng dụng CNTT trong dạy học. GV được coi là lực lượng “đại diện, tiên phong trong xã hội toàn cầu và xã hội số”, là “hình mẫu công dân thời đại số” [122]. Trong nghiên cứu “Những kĩ năng và NL của người học trong thế kỉ 21 bài học từ các nước OECD” (21st century skills and competences for new millennium learners in OECD countries) của Ananiadou & Claro (2009) đã chỉ rõ yêu cầu về kĩ năng CNTT của GV.

Người GV không chỉ được đào tạo về cách giúp HS phát triển các kỹ năng và NL này mà GV cần được thường xuyên đào tạo và bồi dưỡng về CNTT [100]. Các tổ chức quốc tế đã nghiên cứu đưa ra các chuẩn công nghệ dành cho GV, các hướng dẫn cho chương trình giảng dạy được quốc tế công nhận về đào tạo GV. UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc đã đưa ra Khung NL CNTT cho GV (UNESCO's ICT Competency Standards for Teachers) với 3 phiên bản trong các năm 2008, 2011 và 2018 [163]. ISTE - Hiệp hội Quốc tế về công nghệ trong giáo dục của Hoa Kỳ (International Society for Technology in Education) đưa ra chuẩn công nghệ (ISTE) cho GV (ISTE Standards for educators) [122]; Khung Châu Âu NL Kỹ thuật số của các Nhà Giáo dục viết tắt là DigCompEdu (European framework for the digital competence of educators: DigCompEdu) [146].

Ủy ban châu Âu chỉ rõ: “Sự phổ biến của các thiết bị kỹ thuật số và nhiệm vụ giúp HS trở nên có NL kỹ thuật số đòi hỏi các nhà giáo dục phải phát triển NL kỹ thuật số của riêng họ” (In particular the ubiquity of digital devices 10 and the duty to help students become digitally competent requires educators to develop their own digital competence) [146], [106]. Các khung NL CNTT cho GV của các Tổ chức giáo dục thế giới, đặc biệt của UNESCO là cơ sở cho các nhà làm chính sách giáo dục, các cơ sở đào tạo đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á như Indonesia [153], Philippines [145], Thái Lan [129]… đưa ra các chính sách, chuẩn NL CNTT, cũng như tiêu chuẩn đánh giá việc ứng dụng CNTT góp phần cải thiện, nâng cao hiệu quả tích hợp CNTT trong giáo dục, đào tạo. Riêng với môn Lịch sử, Địa lí: Ý nghĩa, vai trò của CNTT trong dạy học lịch sử, địa lí đã được khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu [97], [102], [113]. Trong cuốn sách “Những vấn đề trong dạy học Lịch sử” (Issues in teaching history) của tác giả James Arthur and Robert Phillips đã đưa ra lý do vì sao cần ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử (Why ICT is an issue in history teaching) và khẳng định rằng: Trong tương lai sẽ (chỉ) còn 2 nhóm GV: nhóm nắm vững về CNTT và nhóm GV đã về hưu (In future, there will be two sorts of teacher, the IT literate, and the retired) [102].

Tuy chưa có những nghiên cứu cụ thể về NL ứng dụng CNTT để dạy học môn lịch sử, địa lí song đã có rất nhiều nghiên cứu đưa ra những hướng dẫn cho GV khi ứng dụng CNTT trong dạy học những môn học này. Nhóm tác giả cuốn “Dạy và học Lịch sử với công nghệ” (Teaching and Learning History with Technology) [127] đưa ra những hướng dẫn cho GV xây dựng các trò chơi học tập qua các ứng dụng ảo (virtual), mô hình 3D, Google Earth và các trang web học tập. Đây là những gợi ý quan trọng về những ứng dụng phù hợp với đặc thù môn lịch sử. Vai trò của CNTT trong dạy học địa lí cũng được khẳng định trong nghiên cứu của tác giả Chris Fisher and Tony Binns [113] đó là CNTT không chỉ cung cấp một môi trường an toàn, đáp ứng đa dạng nhu cầu cá nhân và khả năng của từng HS mà còn cho phép HS truy cập các nguồn tài liệu, thông tin phong phú hơn để hiểu biết sâu sắc về không gian, môi trường, con người, văn hóa; trực quan các hiện tượng địa lí.

Đặc biệt, CNTT giúp HS phát triển các kĩ năng phân tích đồ họa, lập bản đồ, mô phỏng hoặc mô hình hóa các hệ thống và môi trường địa lí; giao tiếp với các HS khác ở các địa phương qua email, webcam và hội nghị truyền hình… 11 * Những nghiên cứu về hình thành năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên ngành sư phạm Các nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng CNTT trong dạy học của GV, SV sư phạm và các biện pháp trang bị kĩ năng, NL tích hợp1 công nghệ thành công trong lớp học. Thứ nhất, nghiên cứu về rào cản, nguyên nhân ảnh hưởng đến việc ứng dụng (tích hợp) CNTT của giáo viên, sinh viên sư phạm Nhiều công trình chỉ ra các rào cản ảnh hưởng đến ứng dụng CNTT của GV xuất phát từ quá trình đào tạo. Trong nghiên cứu Jones Andrew và cộng sự thuộc Cơ quan Công nghệ và Truyền thông Giáo dục Anh (BECTA) [124] chỉ ra rằng: Yếu tố từ đào tạo là nguyên nhân dẫn đến việc GV thiếu tự tin với công nghệ. Bởi quá trình đào tạo quá tập trung vào kĩ năng sử dụng thiết bị CNTT mà thiếu đào tạo về phương pháp sư phạm, dạy học với công nghệ hoặc ngược lại, không trang bị đầy đủ kĩ năng giải quyết các vấn đề về kĩ thuật khi sử dụng CNTT.

SV ít có cơ hội sử dụng CNTT trong quá trình đào tạo dẫn tới SV không thể vận dụng được những gì được dạy vào thực tiễn. Ngoài ra, còn có các rào cản về thiếu nguồn lực cơ sở vật chất, các vấn đề về kĩ thuật, niềm tin với công nghệ. Yếu tố liên quan đến quá trình trải nghiệm, thực hành, tiếp xúc với các ví dụ về ứng dụng CNTT thành công trong lớp học của SV được đưa ra trong bài viết “Chuẩn bị cho sinh viên sư phạm tích hợp công nghệ trong giáo dục: Tổng hợp các bằng chứng định tính” (Preparing pre-service teachers to integrate technology in education: A synthesis of qualitative evidence) của Jo Tondeur và các cộng sự (2012) [160]. Các tác giả cho rằng, quá trình đào tạo cần tăng cường trải nghiệm với công nghệ để SV hiểu được lý do sư phạm của việc sử dụng công nghệ và làm thế nào để CNTT hỗ trợ cho giảng dạy và học tập.

Trên cơ sở nhiều nghiên cứu trước đó, Dann Farjon, Anneke Smits, Joke Voogt (2019) trong bài viết: Việc tích hợp công nghệ của sinh viên sư phạm giải thích bởi thái độ và niềm tin, năng lực, tiếp cận và kinh nghiệm (Technology integration of pre-service teachers explained by attitudes and beliefs, competency, 1 Thuật ngữ tích hợp và ứng dụng là 2 thuật ngữ khác nhau song trong Luận án, 2 thuật ngữ được tác giả được sử dụng như nhau. 12 access, and experience) đã tổng hợp và đưa ra mô hình nghiên cứu (WEST) đánh giá ảnh hưởng của bốn yếu tố đến tích hợp CNTT của SV sư phạm gồm: Thái độ, niềm tin tích cực với công nghệ (ý chí – Will), kinh nghiệm công nghệ (Experiences), NL sử dụng công nghệ (Skill), tiếp cận với công nghệ (Tool), trong đó thái độ và niềm tin đã được tìm thấy là có ảnh hưởng mạnh nhất và tiếp cận công nghệ (công cụ) là yếu nhất [111]. Nghiên cứu về các rào cản, yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT cho thấy đào tạo là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến tích hợp công nghệ trong lớp học và hiệu quả ứng dụng CNTT của GV sau này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Triển Năng Lực Ứng Dụng CNTT Trong Dạy Học Lịch Sử & Địa Lý Cho Giáo Viên Tiểu Học Tại ĐH Tây Nguyên" tập trung vào việc nâng cao khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lý cho giáo viên tiểu học. Tài liệu này không chỉ cung cấp các phương pháp và công cụ ứng dụng CNTT mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp công nghệ vào giáo dục, giúp giáo viên nâng cao hiệu quả giảng dạy và tạo ra môi trường học tập hấp dẫn hơn cho học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng công nghệ trong giáo dục và các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học máy tính sử dụng active learning trong việc lựa chọn dữ liệu gán nhãn cho bài toán speech recognition, nơi khám phá cách công nghệ có thể hỗ trợ trong việc học tập chủ động. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học máy tính nghiên cứu các phương pháp trích xuất thông tin trong ảnh tài liệu và ứng dụng cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng công nghệ để trích xuất thông tin hữu ích từ tài liệu hình ảnh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ khoa học máy tính hỗ trợ suy luận trong điều khiển truy xuất dữ liệu gis, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý và phân tích dữ liệu địa lý.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các góc nhìn đa dạng về việc ứng dụng công nghệ trong giáo dục và các lĩnh vực liên quan.