Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học Vật lí theo hướng phát triển năng lực tự học. - Chương 2: Phát triển năng lực tự học của sinh viên trong học tập chương “Động lực học chất điểm” ở chương trình Vật lí đại cương. - Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. - Kết luận và khuyến nghị.
- Tài liệu tham khảo. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÍ THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài Tự học được con người thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi giáo dục còn chưa trở thành một ngành khoa học thực sự.
Ở thời kì đó người ta đã biết quan tâm đến việc làm sao cho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những điều giáo huấn của thầy và thực hiện những điều ghi nhớ đó. Hình thức dạy học theo kiểu giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức, giúp cho người học tự học, tích cực hoạt động để tự tìm ra tri thức đã được nghiên cứu rộng khắp thế giới từ lâu:Ở Mỹ từ những năm 1920 Helen Pankhutots đã nghiên cứu, đề xuất và triển khai kế hoạch Dalton tại trường Dalton là: Giáo viên có vai trò vạch ra những công việc cần làm và giao nhiệm vụ cho người học, còn người học tự quyết định kế hoạch thực hiện. Toàn bộ hoạt động học tập của người học do họ tự thực hiện từ các phòng thí nghiệm, thực hành bộ môn và được kiểm soát bằng các phiếu học tập.Sharmo và Shall.Ahmed đã nhận định: Hình thức hướng dẫn sinh viên tự học là một hình thức tổ chức học có hiệu quả.Cốt lỗi của hình thức này là quá trình điều khiển gián tiếp của giảng viên đối với quá trình tự học của sinh viên thông qua việc giao nhiệm vụ nhận thức đã được thiết kế thành dạng phù hợp, nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ học tập đã được xác định. [13] Trong các công trình nghiên cứucủa một số nhà giáo dục ở thế kỉ thứ XVII, họ đã rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích người đọc giành lấy trí thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập.
Disterweg (1790 - 1866) cho rằng: Nghệ thuật sư phạm của 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người thầy giáo không phải chỉ: “Dạy cho họ cách tìm ra chân lý” mà phải tăng cường tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”. Makiggerchi đã nhấn mạnh: “.nhà giáo trước hết không phải là người cung cấp thông tin mà là người hướng dẫn đắc lực cho sinh viên tự mình học tập tích cực. Họ phải nhường quyền cung cấp tri thức cho sách vở, tài liệu và cuộc sống, thay vào đó “Giáo viên phải là cố vấn”, là “Trọng tài khoa học”.[16] Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của tâm lý học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều phương pháp dạy học mới ra đời: “phương pháp lạc quan”, “phương pháp trọng tâm tri thức”, “phương pháp montessori”. Sau chiến tranh thế giới thứ II, song songvới sự tiến bộ vượt trội của các ngành khoa học cơ bản, thì khoa học giáo dục cũng có nhiều tiến bộ đáng kể.
Trong đó phải nói đến sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống và các quan điểm dạy học hiện đại. Ở giai đoạn này khái niệm về người học cũng đã được thay đổi. Nó không còn bị cá thể hóa cực đoan như trước đây.Dewey: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” và nêu lên khẩu hiệu “Nói, không phải là dạy học, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh”[dẫn theo tài liệu “văn học nhà trường nhận diện tiếp cận đổi mới” của Giáo sưPhan Trọng Luân]. Tư tưởng “lấy học sinh làm trung tâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ thể như: “Phương pháp hợp tác” (cooperative methods), “phương pháp tích cực” (active methods), “Phương pháp cá thể hóa”, “Phương pháp nêu vấn đề”,.
Trong tất cả các phương pháp trên thì “Phương pháp tích cực” đã được nghiên cứu và triển khai rộng hơn cả. Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi sự chú ý kích thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động. Vì thế, người học đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ta có thể thấy tư tưởng “lấy học sinh là trung tâm” trong quá trình dạy học nói riêng cũng như giáo dục nói chung, cần có sự phối hợp của nhiều phương pháp, nhiều kĩ thuật, trong đó “phương pháp tích cực” là chủ đạo mang tính nguyên tắc.
Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, sinh viên. Đồngtình với quan điểm trên, I.Kharlamov, nhà giáo dục Liên Xô đã nói “ trong hệ thống công tác dạy học phải áp dụng rộng rãi những phương pháp và thủ thuật hiệu nghiệm nhất để tổ chức việc học tập của học sinh, nhằm kích thích và phát triển của các em tính tích cực nhận thức” và “Học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những cái gì đã trải qua hoạt động nhận thức của bản thân bằng cách này hay cách khác”. Những nghiên cứu trong nƣớc Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ rất sớm. Ngay từ thời kỳ phong kiến, khi giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất.
Các nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi chỉ dạy, thì yếu tố quyết định sự thành công của họ vẫn là tự học của bản thân. Cũng chính vì thế mà người xưa coi trọng và nêu cao tinh thần tự học thành tài. Nhưng nhìn chung, lối giáo dục còn rất hạn chế “người học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người học học thuộc lòng. Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ đã rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới.
Tự học không phải là vấn đề được quan tâm nghiên cứu, phổ biến, nhưng thực tế thì tự học lại xuất hiện trong rất nhiều tầng lớp xã hội với nhu cầu rất cao. Từ những năm 1985, khi nền giáo dục cách mạng ra đời thì vấn đề tự học thực sự mới được phát động và nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi. Trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tinh thần tự học, cũng như phương pháp dạy học. Người từng nói: “còn sống thì còn phải học” và cho rằng: “về cách học phái lấy tự học làm cốt”.
Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh về phương pháp học tập. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp hay gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn. Một tác giả tiêu biểu là: Nguyễn Cảnh Toàn (Nguyễn Cảnh Toàn (1999), luận bàn và kinh nghiệm về tự học). Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta.
Từng là một giáo viên trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu mà ông đã trở thành một nhà toán học nổi tiếng. Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có rất nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: Tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả hoạt động, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.[10] Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường trong cuốn “Quá trình dạy – tự học” đã khẳng định: Năng lực tự học của trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học. Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học. Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiên cứu cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học.
[11] Bước vào thời kì đổi mới hiện nay, thì việc tự học nói chung, cũng như vấn đề tự học của học sinh, sinh viên nói riêng càng được quan tâm và nghiên cứu vì vai trò quan trọng của nó trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới với phương châm lấy người học là trung tâm. Tự học - tự đào tạo cũng là vấn đề được Nghị quyết Đại hội Đảng VIII và Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) hết sức quan tâm và đề cập: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của sinh viên bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com họcsinh, phát triển mạnh phong trào tự học - tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân. Đối với GS Nguyễn Văn Đạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) thì ông đã từng cho rằng: Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi người và tác giả nói:Sinh, bệnh, lão, tử là quy luật chung của cuộc sống đối với mọi sinh vật, song con người khác với sinh vật ở khả năng tư duy, sáng tạo và khả năng này chỉ có thể đạt tới và phát huy trên nền kiến thức cơ bản được tạo ra thông qua quá trình học và tự học. Số thời gian dành cho việc học với sự giúp đỡ của người thầy là rất ít chỉ chiếm khoảng 1/4 của một đời người.
Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động sáng tạo. Ngay cả trong giai đoạn đi học, việc tự học luôn luôn có vai trò đặc biệt quan trọng. Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi học là những người có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này. Nguyễn Kỳ (Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học) thì lại cho rằng: Tự học - tự đào tạo là con đường phát triển tối ưu.