CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC QUAN SÁT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm năng lực Lê Đình Trung (Chủ biên), Phan Thị Thanh Hội (2018) đã định nghĩa: “Năng lực là tổng hợp các đặc điểm và thuộc tính tâm lý cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoạt động đó đạt hiệu quả cao.” [31, tr14] Đây là cách tiếp cận năng lực theo quan điểm tâm lý học và phù hợp với đặc điểm năng lực trong giáo dục. Năng lực được hình thành trên cơ sở các tư chất tự nhiên của cá nhân.
Tuy nhiên điều này không có nghĩa năng lực hoàn toàn có sẵn trong mỗi con người, nó phải trải qua quá trình công tác, rèn luyện thường xuyên mà có được. Năng lực được chia thành hai nhóm: năng lực chung và năng lực chuyên môn. - Năng lực chung sẽ bao gồm nhiều yếu tố như năng lực phán xét tư duy, năng lực khái quát, năng lực tưởng tượng… - Năng lực chuyên môn sẽ đòi hỏi những năng lực nhất định trong một lĩnh vực nào đó có thể là âm nhạc, tổ chức, kinh doanh, hội họa… Việc phân chia thành hai nhóm riêng biệt không có nghĩa là năng lực chung không có mối quan hệ gì với năng lực chuyên môn. Ngược lại chúng có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau, việc có năng lực chung sẽ mở hướng, tạo điều kiện cho năng lực chuyên môn phát triển.
Trong quá trình học tập và làm việc, để đạt được kết quả cao mỗi người cần phải có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết, kèm theo đó là 10 năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực của mình. Như vậy, có thể hiểu: Năng lực là sự thực hiện đạt hiệu quả cao một hoạt động cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể, NL được hình thành dựa vào tố chất sẵn có của cá nhân. Thông qua quá trình rèn luyện, học tập và thực hành NL ngày càng phát triển, hoàn thiện đảm bảo cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương ứng với NL mà mình có. Khái niệm quan sát Theo Hoàng Phê (Chủ biên) cùng các cộng sự (1997): “Quan sát là quá trình sử dụng thị giác, thính giác, khứu giác và xúc giác kết hợp với các kiến thức để tri giác về đặc điểm của các đối tượng, sự vật, hiện tượng” [20].
Phạm Thị Hiền (Chủ biên, 2015) đưa ra quan điểm: “Quan sát là một hoạt động rộng lớn, không chỉ sử dụng giác quan để thu thập dữ liệu, mà cũng sử dụng các thiết bị cảm giác khác như thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Khi quan sát, con người sử dụng các công cụ cũng được yêu cầu trong các hoạt động quan sát để giúp và cải thiện chất lượng của dữ liệu thu được…”[16,tr6] Trên thực tiễn, quan sát phải thông qua tri giác và phải có mục tiêu chủ đích. Quan sát đòi hỏi sự chú ý và nhận thức của người quan sát. Từ các quan điểm trên, chúng tôi rút ra khái niệm: Quan sát là quá trình tri giác có mục đích, có kế hoạch nhằm theo dõi và phát hiện một hoặc nhiều hiện tương tâm lý nào đó của khách thể trong hoàn cảnh và thời gian xác định, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu.
Khái niệm năng lực quan sát Theo Nguyễn Ngọc Ngân (2017): “Năng lực quan sát là khả năng tri giác có chủ định, diễn ra tương đối dộc lập và lâu dài, nhằm phản ánh nhanh chóng, đầy đủ, rõ rệt và chính xác những điểm quan trọng, chủ yếu, đặc sắc của sự vật, hiện tượng và những biến đổi của chúng.” [18] Phạm Thị Hiền (Chủ biên, 2015) cho rằng: “Năng lực quan sát là năng lực nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách chi tiết và có phân tích. Quan sát 11 hướng đến và phục vụ cho mục đích, chủ đích, chủ ý rõ ràng”. [16, tr9] Lương Thị Bình, Phan Lan Anh (2017) đưa ra quan điểm: “Năng lực quan sát là khả năng của một người dùng giác quan nhìn nhận sự vật, sự việc, hiện tượng rõ ràng, cụ thể và có chủ đích kết hợp tư duy phân tích đánh giá sự vật, sự việc, hiện tượng đó.” [4, tr21] Từ các quan điểm nêu trên, chúng tôi tiếp cận khái niệm năng lực quan sát như sau: Năng lực quan sát là chỉ khả năng sử dụng tri giác của một người để nhìn nhận, phân tích sự vật, hiện tượng trong môi trường xung quanh để có kết luận chính xác về một vấn đề, tình huống nào đó. Đây là một kỹ năng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống hằng ngày của con người.
Năng lực quan sát ở mỗi người khác nhau là khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm nhân cách và biểu hiện ở sự thay đổi linh hoạt các kiểu tri giác như: Kiểu tri giác tổng hợp, kiểu tri giác phân tích, kiểu phân tích tổng hợp, kiểu cảm xúc chú ý tâm trạng xúc cảm do đối tượng gây ra. Năng lực quan sát biểu hiện dựa trên các thành tố cơ bản như sau [16, tr21]: + Năng lực thiết kế và thực hiện hoạt động quan sát: Là khả năng lựa chọn mục tiêu, thực hiện quan sát một cách chính xác và thu được kết quả tốt nhất. + Năng lực lưu giữ kết quả quan sát: Là chỉ khả năng ghi nhớ kết quả quan sát và cách thức ghi lại lưu giữ kết quả quan sát một cách hiệu quả + Năng lực xử lí, phân tích sắp xếp kết quả quan sát: Là khả năng xử lý hình ảnh, thông tin đã quan sát được để phân tích kết quả, tuy duy suy luận về nội dung quan sát được. + Năng lực đánh giá, lựa chọn, sử dụng kết quả quan sát: Là khả năng tư duy lựa chọn chính xác, vận dụng hiệu quả kết quả quan sát được.
Khái niệm phát triển năng lực quan sát Kết hợp khái niệm quan sát và năng lực quan sát. Chúng tôi đưa ra khái niệm phát triển năng lực quan sát như sau: Phát triển năng lực quan sát là sự biến đổi về mức độ, khả năng sử dụng tri giác của một người để nhìn nhận 12 những đặc điểm quan trọng của sự vật hiện tượng một cách chính xác hơn và nhanh chóng hơn thông qua rèn luyện, học tập. Phát triển năng lực quan sát là một trong những nội dung dạy học phát triển năng lực tập trung vào mục tiêu phát triển toàn diện cho học sinh. Theo quan điểm sư phạm, để phát triển năng lực quan sát, giáo viên cần hình thành ở học sinh kỹ năng phản ánh hiện thực một cách khách quan nhất.
Dạy HS các thao tác của tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh … tổ chức tốt quá trình quan sát theo các yêu cầu sau: – Xác định rõ ràng mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ quan sát. – Chuẩn bị chu đáo về tri thức, phương tiện trước khi quan sát. – Tiến hành quan sát có kế hoạch, có hệ thống. – Khi quan sát cần tích cực sử dụng các phương tiện ngơn ngữ.
– Đối với trẻ nhỏ thì tạo điều kiện để trẻ sử dụng nhiều các giác quan trong quá trình quan sát. – Ghi lại các kết quả quan sát, xử lý kết quả và rút ra nhận xét. Trong dạy học và giáo dục, người GV cần chú ý đến những điểm khác biệt trên đây, để hình thành cho mỗi học sinh năng lực quan sát tốt nhất. Vai trò, thành tố và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển năng lực quan sát cho học sinh tiểu học 1.
Vai trò của việc phát triển năng lực quan sát cho học sinh tiểu học Trong giáo dục, việc phát triển năng lực quan sát cho HS tiểu học có những vai trò quan trọng như sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức khoa học cho học sinh tiểu học: Thông qua quá trình quan sát, học sinh tiểu học nhận diện được đối tượng, sự vật, hiện tượng nhờ đó người học sẽ có biểu tượng (đặc điểm bên ngoài, vai trò) về sự vật, hiện tượng trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh và mô tả được sự vật, hiện tượng bằng các cách biểu đạt khác nhau. Trên cơ sở quan sát có chủ đích, có kế hoạch, học sinh sẽ so sánh, lựa chọn, phân loại được các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội theo một số 13 tiêu chí. Thứ hai, nâng cao khả năng tìm hiểu môi trường tự nhiên và xã hội cho HS tiểu học: Trong quá trình thực hiện hoạt động quan sát sự vật, hiện tượng qua tranh, ảnh, mô hình, sơ đồ, vật thật, người học nhận xét được về những đặc điểm bên ngoài, so sánh sự giống, khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng xung quanh và sự thay đổi của chúng theo thời gian một cách đơn giản. Bên cạnh đó, có thể nêu thắc mắc, đặt được các câu hỏi đơn giản về một số sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh.
Thứ ba, nâng cao khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học học sinh tiểu học: Nhờ quá trình quan sát môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, học sinh tiểu học nhận diện và xác định được các tình huống có liên quan đến bài học trong cuộc sống. Từ đó đưa ra được cách ứng xử phù hợp trong các tình huống có liên quan (ở mức độ đơn giản). Vì vậy sẽ góp phần phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học… 1. Các thành tố biểu hiện của phát triển năng lực quan sát của học sinh tiểu học Việc phát triển năng lực quan sát của HS tiểu học được biểu hiện ở các năng lực thành phần trong đó các năng lực thành phần lại được biểu hiện ở việc phát triển các kĩ năng quan sát cụ thể là: - Phát triển kỹ năng thiết kế và thực hiện hoạt động quan sát, bao gồm các thành phần sau: + Xác định mục tiêu + Khả năng sử dụng các giác quan trong quan sát + Kĩ năng sắp xếp, thực hiện trình tự quan sát phù hợp và hiệu quả + Kĩ năng chăm chú lắng nghe + Kĩ năng nhìn kĩ, chú ý, say sưa + Kĩ năng tìm tòi, phát hiện bản chất và cái hay, cái mới lạ 14 + Khả năng nhập vai, hóa thân, trải nghiệm khi quan sát.
- Học sinh phát triển kĩ năng lưu giữ kết quả quan sát, bao gồm khả năng ghi chép, ghi nhớ được sự vật, hiện tượng, sự việc… đã quan sát.