phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo ba chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2. Phát triển năng lực nghiên cứu cho học sinh bằng dạy học theo dự án trong dạy học Sinh học 10, Trung học phổ thông. Thực nghiệm sư phạm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong thực tiễn sản xuất, kinh tế - xã hội và đã đi vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một PPDH. Đến đầu thế kỷ XX, trên cơ sở các học thuyết tâm lý giáo dục của J. Vugotxki, các nhà sư phạm Mỹ (Woodward; Richard; John Deway; W.Kilpatrich) đã xây dựng lý luận cho dạy học dự án.
DHDA đã được áp dụng cho HS ở mọi lứa tuổi với hầu hết các môn học và trong những môi trường học tập đa dạng. Các tác giả này cho rằng mọi dự án phải có xu hướng trở thành dự án của cuộc sống và đều phải mang đến chuyển biến cho cuộc sống của HS. John Dewey đã nhấn mạnh rằng thực tiễn quan trọng hơn lý thuyết và HS là trung tâm của mô hình DHDA. Với những quan điểm này ông đã tiến hành những thử nghiệm đầu tiên cho việc dạy theo dự án ở trường Đại học bang Chicago nước Mĩ và John Dewey đã rút ra nhận định chắc chắn rằng: “Tất cả HS, để học tập phải tích cực và làm ra một cái gì đó; tất cả HS phải học cách suy nghĩ và giải quyết các vấn đề; tất cả HS phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội”.
Năm 1918, nhà tâm lý học William H. Kilpatric và các nhà nghiên cứu của trường đại học ở Columbia qua các giờ học, hội nghị và các tác phẩm đã có những đóng góp lớn trong truyền bá DHDA. Cũng vào thời điểm này ở Bắc Mỹ, ở Châu Âu DHDA đã tạo nên một chuyển động xã hội- giáo dục với thay đổi mạnh mẽ trong dạy học nhà trường được thể hiện qua sự thay đổi phương pháp học tập với sự tham gia một cách có ý thức nhất, tích cực nhất của học sinh vào việc tiếp thu tri thức. Ngày nay, DHDA ngày càng được phát triển hơn với một định hướng quan trọng là sử dụng nó như một phương pháp dạy học tich cực nhằm phát triển năng lực học tập của HS, đặc biệt là năng lực nghiên cứu.
Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Để chuẩn bị quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau 2015, cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, trong đó có DHDA. Đã có nhiều tác giả có các bài báo, công trình liên quan đến DHDA.
Hai tác giả TS. Nguyễn Văn Cường và TS. Nguyễn Thị Diệu Thảo có bài viết: “Dạy học dự án- một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” [23,tr. 17] đã tiếp cận phương pháp DHDA từ góc độ lý luận và đã nêu được vai trò của phương pháp này đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học của GV.
Tại hội nghị khoa học nữ lần thứ 9, hai tác giả PGS. Nguyễn Thị Phương Hoa và Võ Thị Bảo Ngọc đã có bài trình bày về “Tình hình vận dụng phương pháp project trong dạy học ở trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội” nêu lên được tình hình vận dụng phương pháp này trong dạy học ở khoa Anh - Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội cũng như đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học theo phương pháp dạy học dự án [15]. Trên tạp chí Giáo dục số 157 (kì 1-3/2007), PGS. Đỗ Hương Trà có bài viết : “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện” [25] đã đưa ra cơ sở tiếp cận dự án và nêu lên tiến trình chi tiết thực hiện DHDA.
Đặc biệt, trong tài liệu Dự án Việt Bỉ “Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” đã giới thiệu rất chi tiết về DHDA, bao gồm các bước thực hiện, tiêu chí đánh giá. 125] Ngoài ra cũng có nhiều công trình luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề này: - Nguyễn Thị Hường (2012), Tổ chức dạy học theo dự án phần sinh thái học sinh học lớp 12 – THPT. Luận văn thạc sỹ, Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nói đến phương pháp DHDA và tổ chức dạy học bằng phương pháp này cho phần Sinh thái học (Sinh học 12).[18] - Nguyễn Thị Ngân (2013), Hình thành năng lực học tập Sinh học 10- THPT, thông qua rèn luyện kỹ năng lập sơ đồ hệ thống hóa kiến thức. Luận văn thạc sỹ, Đại học Sư phạm Hà Nội.
Luận văn đã nói đến các biện pháp hình thành, phát triển năng lực học tập cho HS bằng biện pháp hệ thống hóa kiến thức.[19] - Nguyễn Hồng Nhung (2013), Phát triển năng lực học tập cho học sinh bằng sử dụng dạy học dự án trong dạy học phần ba Sinh học VSV - Sinh học 10, THPT. Luận văn thạc sỹ, Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nói đến phương pháp tổ chức dạy học theo dự án để phát triển năng lực cho học sinh.[20] - Lê văn Sóng ( 2013), Vận dụng dạy học dự án vào dạy học chương III phần Sinh học Vi sinh vật - Sinh học 10 THPT. Luận văn thạc sĩ giáo dục. Đại học Sư phạm Hà Nội đã nói đến phương pháp DHDA và vận dụng dạy học dự án vào chương III Vi sinh vật - sinh học 10 THPT.[30] 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mặc dù vậy lượng thông tin về lý luận cũng như các biện pháp phát triển năng lực nghiên cứu cho HS vẫn còn hạn chế.
Như vậy, DHDA không phải là một vấn đề mới đối với ngành Giáo dục ở trong nước cũng như thế giới. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cơ sở lý thuyết cũng như các biện pháp phát triển năng lực nghiên cứu Sinh học 10 thông qua phương pháp DHDA. Do đó, việc tìm hiểu về cơ sở lý luận về tổ chức DHDA nhằm phát triển năng lực nghiên cứu cho HS là rất cần thiết. Nghiên cứu khoa học 1.
Khái quát về nghiên cứu khoa học - Quan niệm: Nghiên cứu khoa học là một khâu, một hình thức cơ bản trong hoạt động khoa học – công nghệ. Có thể nói hoạt động nghiên cứu khoa học là hoạt động có chủ đích, có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết khách quan về các sự vật, hiện tượng, các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Trên cơ sở đó có thể nói nghiên cứu khoa học là các hoạt động có chủ đích, có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết khách quan ( được kiểm chứng ) về các sự vật, hiện tượng, phát hiện các quy luật hoặc sáng tạo các phương pháp, phương tiện kỹ thuật mới để ứng dụng trong thực tiễn. [ 27, tr 29 ] Bản chất của nghiên cứu khoa học là phát hiện ra cái bản chất, cái có tính quy luật của thực tại, qua việc phát hiện vấn đề nghiên cứu, nêu giả thuyết và chứng minh giả thuyết và xây dựng phán đoán khoa học.
- Tính đặc trưng của nghiên cứu khoa học: + Tính sáng tạo + Tính mới mẻ + Sử dụng các phương pháp khoa học + Kiến tạo ra các kiến thức mới - Phân loại nghiên cứu khoa học: Theo loại hình nghiên cứu khoa học có thể xếp thành ba loại hoạt động nghiên cứu chính : + Nghiên cứu cơ bản + Nghiên cứu ứng dụng + Triển khai thực nghiệm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu cơ bản có thể xác định như là bất kỳ một nghiên cứu thực nghiệm hoặc nghiên cứu lý thuyết nào tiến hành với mục đích chủ yếu nhằm đạt được những kiến thức mới về thuộc tính, bản chất sự vật, hiện tượng mà chưa cần quan tâm nghiên cứu một ứng dụng hoặc một vận dụng đặc biệt nào.[ 27, tr 32 ] * Nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu ứng dụng là nghiên cứu được tiến hành nhằm đạt được những nhận thức mới, cách làm mới nhưng chủ yếu nó dựa trên nền tảng kiến thức khoa học đã có và có một mục đích hoặc có một mục tiêu ứng dụng thực tiễn riêng biệt.[ 27, tr 33 ] * Triển khai thực nghiệm Triển khai thực nghiệm là một hoạt động nghiên cứu có hệ thống nhằm vận dụng các kiến thức đã đạt được nhờ nghiên cứu hoặc kinh nghiệm thực tiễn nhằm đưa ra những giải pháp mới, phương pháp mới, vật liệu mới, công nghệ mới, những hệ thống và dịch vụ mới… nhằm kiểm chứng và mở rộng phạm vi, qui mô của các nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn đời sống xã hội nói chung và trong giáo dục nói riêng. Trình tự logic của nghiên cứu khoa học Theo Vũ Cao Đàm (2003), nghiên cứu khoa học bao gồm các bước cơ bản sau đây: Bước 1: Quan sát sự vật, hiện tượng và xác định vấn đề nghiên cứu. Việc quan sát, theo dõi sự vật, hiện tượng, quy luật của sự vận động, mối quan hệ…trong thế giới xung quanh và dựa vào kiến thức, kinh nghiệm hay các nghiên cứu có trước để khám phá, tìm ra kiến thức mới, giải thích các quy luật vận động, mối quan hệ giữa các sự vật một cách khoa học. Quan sát để cảm nhận sự kiện (tự xảy ra hoặc do chủ động bố trí) là bước đầu tiên để nhận ra vấn đề cần giải quyết.
Bản chất của quan sát thường đặt ra những câu hỏi, từ đó đặt ra “vấn đề” nghiên cứu cho người nghiên cứu. Bước 2: Thiết lập giả thuyết hoặc dự đoán về vấn đề nghiên cứu.