CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ TÌM HIỂU TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH THÔNG QUA SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM ẢO TRONG DẠY HỌC THEO HƯỚNG TIẾP CẬN MÔ HÌNH 5E 1. Khái quát về năng lực và năng lực Khoa học tự nhiên 1. Khái niệm - Ở góc độ tâm lí học, các nhà tâm lí học có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Trong “Giáo trình tâm lí học đại cương” của Nguyễn Quang Uẩn chủ biên, nhóm tác giả cho rằng: “NL là các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một dạng hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động đỏ có hiệu quả" [15]. Theo Cosmovics thì: “NL là tổ hợp đặc điểm của cả nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”.
Nhà tâm lí học A.Leochiev cho rằng: “NL là đặc điểm cá nhân qui định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định” [15]. Định nghĩa năng lực trong Từ điển Tiếng Việt: “NL là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [15]. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “NL là một tổ hợp đặc điểm tâm lí của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy” [15]. - Khái niệm NL được nhìn nhận ở góc độ giáo dục học có những quan niệm sau: Trong tác phẩm “Giáo dục học hiện đại (Những nội dung cơ bản)” tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: “NL là những đặc điểm tâm li của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất định.
Năng lực có quan hệ với kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. NL thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tinh bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động ở tỉnh sáng tạo, tỉnh độc đáo của phương pháp hoạt động. Một số NL có thể đo được bằng trắc nghiệm” [15]. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018) quan niệm “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [9]. Cấu trúc của năng lực Cấu trúc chung của năng lực gồm 3 thành phần sau: - Các thành tố của NL (Elements of Competency): là các kĩ năng cơ bản, kết hợp với nhau tạo nên mỗi hợp phần, thường được bắt đầu với động từ mô tả rõ ràng giá trị của hoạt động; - Chỉ số hành vi (Behavioral indicator): là các yêu cầu cần thực hiện của mỗi thành tố; - Tiêu chí chất lượng (quality criteria): là các mức độ thành thạo ở mỗi yêu cầu đó Các yếu tố cấu thành một NL được thể hiện trong hình 1. Sơ đồ các yếu tố cấu thành năng lực 1. Các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh Trung học cơ sở Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã xác định việc dạy học ở phổ thông hướng vào hình thành và phát triển 5 phẩm chất và 10 năng lực.
Các NL được chia thành hai nhóm chính: - Nhóm NL cốt lõi, đó là NL cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nhóm này lại chia thành hai nhóm: + Những NL chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo. 11 + Những NL đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: NL ngôn ngữ, NL tính toán. NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học.
NL thẩm mĩ, NL thể chất. Sơ đồ những phẩm chất và năng lực học sinh cần đạt được Bên cạnh việc hình thành, phát triển các NL cốt lõi, chương trình GDPT 2018 còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng NL đặc biệt (năng khiếu) của HS. - Nhóm NL khoa học đặc trưng của từng môn học như năng lực tính toán, năng lực Tin học…Trong đó Môn Khoa học Tự nhiên hình thành và phát triển ở học sinh năng lực khoa học, cụ thể là năng lực Khoa học tự nhiên bao gồm các năng lực thành phần: nhận thức khoa học, tìm hiểu môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Năng lực khoa học tự nhiên Môn KHTN hình thành, phát triển ở học sinh năng lực KHTN với các thành phần: nhận thức KHTN; tìm hiểu tự nhiên; vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học; đồng thời góp phần cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các năng lực chung và các phẩm chất chủ yếu [3].
Năng lực nhận thức khoa học tự nhiên 12 Năng lực nhận thức KHTN là khả năng trình bày, giải thích được những kiến thức cốt lõi về thành phần cấu trúc, sự đa dạng, tính hệ thống, quy luật vận động, tương tác và biến đổi của thế giới tự nhiên. Năng lực nhận thức KHTN có các biểu hiện cụ thể: - Nhận biết và nêu được tên các sự vật, hiện tượng, khái niệm, quy luật, quá trình của tự nhiên. - Trình bày được các sự vật, hiện tượng; vai trò của các sự vật, hiện tượng và các quá trình tự nhiên bằng các hình thức biểu đạt như ngôn ngữ nói, viết, công thức, sơ đồ, biểu đồ,…. - So sánh, phân loại, lựa chọn được các sự vật, hiện tượng, quá trình tự nhiên theo các tiêu chí khác nhau.
- Phân tích được các đặc điểm của một sự vật, hiện tượng, quá trình của tự nhiên theo logic nhất định. - Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học. - Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng (quan hệ nguyên nhân - kết quả, cấu tạo - chức năng,. Năng lực tìm hiểu tự nhiên Năng lực tìm hiểu tự nhiên là khả năng quan sát, phân tích và hiểu biết về các yếu tố tự nhiên trong môi trường xung quanh, như đất, nước, không khí, động thực vật, vật nuôi, thời tiết, khí hậu, v.
Năng lực này bao gồm các kỹ năng về khoa học tự nhiên như việc quan sát, thu thập dữ liệu, phân tích, đánh giá, và đưa ra kết luận và viết báo cáo [5]. Năng lực tìm hiểu tự nhiên, được biểu hiện qua việc quan sát và đặt được câu hỏi về sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên; về sinh vật, con người và vấn đề sức khoẻ; từ kết quả quan sát, thí nghiệm, thực hành,. rút ra được nhận xét, kết luận về đặc điểm và mối quan hệ giữa sự vật, hiện tượng. Năng lực tìm hiểu môi trường tự nhiên xung quanh được hiểu là tổ hợp những hoạt động chủ động, tích cực của người học; dựa trên các kiến thức đã biết người học tự đặt ra các câu hỏi, thu thập, điều tra, quan sát, phân tích dữ liệu nhằm tìm ra kiến thức mới, hiểu biết mới về thế giới tự nhiên, được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động [5].
13 Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Khoa học tự nhiên [3] đã xác định năng lực tìm hiểu tự nhiên là khả năng HS thực hiện được một số kĩ năng cơ bản để tìm hiểu, giải thích sự vật hiện tượng trong tự nhiên và đời sống. Chứng minh được các vấn đề trong thực tiễn bằng các dẫn chứng khoa học. Các biểu hiện cụ thể bao gồm: − Đề xuất vấn đề, đặt câu hỏi cho vấn đề: + Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề. + Phân tích bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức và kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất.
− Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: + Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán. + Xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu. − Lập kế hoạch thực hiện: + Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu + Lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, hồi cứu tư liệu,. + Lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu.
− Thực hiện kế hoạch: + Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra. + Đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản. + So sánh kết quả với giả thuyết, giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết. − Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: + Sử dụng được ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt quá trình và kết quả tìm hiểu.
+ Viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu. + Hợp tác được với đối tác bằng thái độ lắng nghe tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục. − Ra quyết định và đề xuất ý kiến: Đưa ra được quyết định và đề xuất ý kiến xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu. Dạy học và giáo dục phát triển năng lực Để làm rõ những điểm khác của dạy học tiếp cận nội dung với dạy học tiếp cận phát triển phẩm chất, năng lực, có thể so sánh dưới các góc độ sau: Bảng 1.
Phân biệt giữa dạy học theo nội dung/trang bị kiến thức và dạy học theo phát triển năng lực Dạy học theo Dạy học theo Tiêu chí nội dung/trang bị kiến thức phát triển năng lực - Chú trọng hình thành kiến thức, - Chú trọng hình thành phẩm chất và kĩ năng, thái độ. Mục tiêu dạy học năng lực thông qua việc hình thành Về mục được mô tả không chi tiết và khó có kiến thức, kĩ năng, thái độ. tiêu dạy thể quan sát, đánh giá được. - Mục tiêu dạy học được mô tả chi học - Lấy mục tiêu học để thi, học để tiết và có thể quan sát, đánh giá được, hiểu làm trọng.
học để sống, học để biết làm.