Chương 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (1930-1975) ở trường phổ thông. Một số biện pháp triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (1930 – 1975) ở trường trung học phổ thông số 2 Si Ma Cai tỉnh Lào Cai. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1930-1975) Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Khái niệm năng lực trong tiếng Anh là compentency có nguồn gốc từ tiếng La tinh là competenia có nghĩa là gặp gỡ. Khái niệm năng lực cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Năng lực được hiểu theo nghĩa chỉ về nhận định đối với một cá nhân nào đó trong việc thực hiện công việc, hoặc chỉ về nhận định đối với hiệu quả làm việc của một tổ chức, đơn vị nào đó.
như năng lực là sự thể hiện các kĩ năng, khả năng làm việc của một cá nhân trong những tình huống khác nhau, là công suất làm việc của một doanh nghiệp. Trong cuốn “Dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử Trung học phổ thông”, tác giả Nghiêm Đình Vỳ tổng chủ biên, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội (2018) đưa ra quan niệm cho rằng “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của học sinh; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn lực bên ngoài, chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác”. Theo quan điểm chung của một số nhà khoa học phương Tây, (đặc biệt là nhà khoa học người Đức - John Erpenbeck (1998)) thì năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức thiết lập qua giá trị, xếp đặt như là các khả năng, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý trí.
Đồng thời, tri thức là cơ sở của năng lực, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được phát triển hàng ngày qua kinh nghiệm, được thực hiện hóa qua chủ định. Theo tác giả Hoàng Phê (2002), trong Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng thì “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [31, tr. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (1998) trong cuốn Tâm lí học đại cương, NXB Giáo dục Hà Nội thì “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [39, tr. Trong sách Tâm lí học đại cương, 2007, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, do Nguyễn Quang Uẩn chủ biên cũng đề cập tới năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả.
Theo Nguyễn Xuân Thức trong cuốn Tâm lí học đại cương, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội (2015) thì năng lực bao gồm những thuộc tính tâm lí độc đáo của cá nhân đáp ứng yêu cầu hoặc đặc trưng của hoạt động và chính nó đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả cao. Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động. Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm). Như vậy, năng lực được hiểu theo nghĩa gắn với hành động, năng lực học tập của HS biểu hiện ở khả năng tham gia vào hoạt động học tập trong nhà trường và vận dụng kết quả học tập ở nhà trường để kết nối thực hiện những hoạt động ngoài nhà trường và trong cuộc sống.
Thông qua các khái niệm năng lực nêu trên, có thể dễ nhận thấy bản chất của năng lực với ba dấu hiệu chủ yếu: thứ nhất là sự khác biệt về các thuộc tính tâm lí cá nhân; thứ hai là biểu hiện sự khác nhau giữa người này với người khác trong việc thực hiện hiệu quả các công việc ở các mức độ khác nhau; thứ ba là được hình thành và phát triển trong hoạt động cá nhân. Trên cơ sở tiếp cận quan điểm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi cho rằng “năng lực là khả năng của một cá nhân trong thực hiện một nhiệm vụ, một công việc nào đó với một mức độ hoàn thành hiệu quả nhất định dựa trên sự hiểu biết, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân họ”. Hoặc cũng có thể hiểu năng lực được hình thành nên bởi kiến thức cá nhân, kĩ năng, thái độ và động cơ hành động của con người trong một hoàn cảnh cụ thể, nhất định. Các yếu tố đó của năng lực có mối quan hệ chặt chẽ, tồn tại cùng nhau góp phần tạo nên con người phát triển toàn diện 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về năng lực.
Để có thể hình thành được năng lực thì kĩ năng được coi là yếu tố quan trọng nhất không thể thiếu. Xét về lí luận, kĩ năng được hiểu là phương thức vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành đã được củng cố qua các các hoạt động cụ thể mà con người thực hiện một công việc hay nhiệm vụ nào đó. Hơn nữa, thông qua việc thực hiện công việc, kĩ năng cũng phản ánh sự hiểu biết của con người, thể hiện sự xác lập mối quan hệ giữa đối tượng với các kiến thức, tình huống tương ứng và hình thành phương thức hành động của chủ thể lên một nhiệm vụ cụ thể. Kĩ năng khi được hình thành và phát triển đến mức độ cao thì có thể dần chuyển thành kĩ xảo – sự thuần thục trong hành động.
Như vậy, phát triển năng lực nhất định phải là sự phát triển từ chính chủ thể hành động với những khả năng tổng hòa vốn có của họ: từ kiến thức đến kĩ năng, kĩ xảo trong hành động. Mức độ đạt được của năng lực chính là dựa trên kết quả của hành động. Mỗi một cá nhân trong quá trình giáo dục với khối lượng kiến thức được thu nhận, với mọi khả năng hình thành các kĩ năng, kĩ xảo.được coi là biểu hiện của năng lực. Việc phát triển năng lực cho HS THPT nói chung là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ hành động cá nhân.nhằm thực hiện hiệu quả hoạt động học tập trong một hoàn cảnh nhất định ở các giai đoạn khác nhau của quá trình học tập.
Đồng thời, quá trình hình thành kĩ năng của HS được bắt đầu bằng chính việc họ phải thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự, hướng dẫn, giúp đỡ, kiểm tra, giám sát của GV. Khái niệm “hợp tác”. Trong xã hội hiện hiện đại nhịp độ cuộc sống ngày càng cao, để có thể sinh sống, tồn tại và phát triển một cách bền vững, con người cần thiết cần phải biết hợp tác với nhau. Hợp tác được coi là yếu tố diễn ra thường xuyên mọi lúc, mọi nơi trong các mối quan hệ xã hội.
Từ điển Tâm lí học, của Nhà xuất bản Giáo dục (năm 2009), khái niệm hợp tác được giải thích là hai hay nhiều bộ phận trong một nhóm cùng làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả chung. “Hợp tác” theo nghĩa chung nhất là “làm việc cùng nhau” với các dấu hiệu chủ yếu sau: 1) Mọi người hướng tới mục đích chung trên cơ sở cùng có lợi. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2) Mỗi người đảm nhận một công việc phù hợp với năng lực của bản thân. 3) Hợp tác với nguyên tắc: bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nguồn lực và thông tin, tự nguyện hoạt động.
4) Các thành viên trong nhóm gắn kết với nhau, dựa vào nhau trên cơ sở trách nhiệm của mỗi cá nhân. 5) Cùng chung sức, giúp đỡ, khích lệ tinh thần tập thể và bổ sung cho nhau. Trên cơ sở tiếp cận, tìm hiểu và nghiên cứu về quan niệm “hợp tác” của các tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi cho rằng hợp tác vốn là một hoạt động xã hội đặc thù mà đặc trưng của hoạt động đó là sự cùng nhau chung sức, đồng lòng của nhiều người hợp lại để giải quyết một vấn đề chung nhằm đạt được những lợi ích chung của nhóm, tập thể hay cộng đồng nào đó. Vấn đề chúng ta luôn cần hướng tới, cần bàn đó là sự hợp tác có hiệu quả.
Hợp tác có hiệu quả được thể hiện qua 7 dấu hiệu sau đây: - Một là, có chung mục đích, chung trách nhiệm. - Hai là, công việc được phân công phù hợp với năng lực của từng người. - Ba là, chấp hành kỉ luật, tuân theo những qui định chung và theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của người đứng đầu. - Bốn là, một người vì mọi người, mọi người vì một người.
- Năm là, chia sẻ nguồn lực và thông tin, cùng hoàn thành nhiệm vụ. - Sáu là, khích lệ tinh thần tập thể hơn là đề cao sự ganh đua. - Bảy là, hành động nhiều hơn lời nói, nhường nhịn vì lợi ích tập thể. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một đề tài luận văn Thạc sĩ, chúng tôi không thể nghiên cứu một cách toàn diện, tổng hợp về khái niệm “hợp tác” bởi đây là một khái niệm rất rộng mà chỉ tập trung tìm hiểu về khái niệm hợp tác trong học tập bộ môn lịch sử giai đoạn 1930-1975 ở trường THPT số 2 Si Ma Cai – Lào Cai.
Tóm lại, có thể hiểu hợp tác trong học tập là “sự tham gia phối hợp giữa hai hoặc nhiều HS vào một nhóm theo sự phân công nhiệm vụ khác nhau cho từng cá nhân để thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ chung nhằm đạt được kết quả học tập bổ ích”. Thông qua hoạt động hợp tác học tập nhóm, trên tinh thần tập thể, các cá nhân HS có cơ hội được trau dồi về kiến thức bộ môn, hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất bản thân theo hướng tích cực hóa người học. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.