Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy học hóa học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn. Sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy học hóa học chương Amin-Aminoaxit-Protein lớp 12 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn. Thực nghiệm sư phạm.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN 1.1 Định hƣớng đổi mới giáo dục hiện nay Với xu hướng mới thì mô hình của giáo dục hiện nay đang cho thấy kiến thức vừa là chất liệu-đầu vào, vừa là kết quả-đầu ra của quá trình giáo dục. Do khó có điều kiện thực hành, thực tập và trải nghiệm, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều, nhưng khả năng vận dụng vào đời sống thì còn nhiều hạn chế. Theo cách tiếp cận giáo dục phổ thông mới hiện nay, giáo dục không còn là truyền thụ kiến thức mà giáo dục nhằm giúp học sinh có thể hoàn thành công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và cuộc sống thực tiễn nhờ vận dụng hiệu quả, sáng tạo kiến thức đã học. Đây là quan điểm đã thể hiện được nhất quán ở nội dung, phương pháp và đánh giá kết quả giáo dục.
Chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay đang lấy việc phát triển phẩm chất và năng lực thực tiễn của học sinh làm mục tiêu, lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp và giảm bớt kiến thức kinh viện môt cách đáng kể, làm cho bài học trở lên nhẹ nhàng hơn. Tích cực dạy học theo phân hóa, tự chọn; thực hiện đổi mới phương pháp dạy học (PPDH); đổi mới kiểm tra đánh giá (KTĐG), đổi mới việc đánh giá kết quả giáo dục. Mục tiêu phát triển năng lực người học là xu hướng của chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực hiện nay.Trong quá trình dạy học, giáo dục định hướng nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, quan tâm chú trọng đến năng lực vận dụng kiến thức trong những tình huống thực tiễn của cuộc sống giúp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com con người chuẩn bị cho năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn và nghề nghiệp. Vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức được nhấn mạnh trong chương trình giáo dục theo xu hướng này.
Khác với dạy học theo định hướng nội dung, có thể coi ”sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học là chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra. Kết quả học tập của HS được thông qua việc quản lý nâng cao chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”. Kết quả học tập của học sinh mong muốn được mô tả một cách chi tiết, cụ thể và có thể quan sát, đánh giá được. Trong chương trình học sinh cần đạt được những kết quả theo yêu cầu đã quy định.
Các chuẩn đào tạo được đưa ra cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra. Ưu điểm lớn nhất của chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực là tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh sự phát triển của năng lực vận dụng kiến thức của HS. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng mà không đầy đủ, hợp lí, không hiệu quả, không thể hiện đầy đủ nội dung dạy học thì có thể dẫn đến có các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức. Ngoài ra còn phải chú trọng đến cả quá trình thực hiện.
Năng lực và sự phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông 1. Khái niệm về năng lực “Năng lực là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện sống của cá thể”- theo quan điểm triết học. “Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao” - theo quan điểm của các nhà tâm lý học Theo OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) thì xác định:“ Năng lực là khả năng hành động, đạt thành công và chứng minh sự tiến bộ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Theo cuốn “Tiêu chuẩn năng lực cho đánh giá” của cơ quan đào tạo quốc gia Úc mô tả “Năng lực bao gồm kiến thức, kĩ năng và sự áp dụng phù hợp những kiến thức và kĩ năng đó theo tiêu chuẩn thực hiện trong việc làm”.
Các quan điểm về năng lực có thể được trình bày theo nhiều cách khác nhau do đứng từ các góc độ tiếp cận vấn đề không giống nhau nhưng cũng có thể nhìn thấy được điểm chung trong các định nghĩa trên. Trong đề tài này, tôi sử dụng khái niệm lực theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Việt Nam (2017) “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”[1]. Mô hình chung cấu trúc năng lực [13, 4] 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các loại năng lực 1. Các năng lực chung Năng lực chung là những năng lực, thiết yếu cơ bản hoặc cốt lõi thể hiện mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực giao tiếp, năng lực vận động…. Dựa vào bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau có thể hình thành và phát triển những năng lực này. - Nhóm năng lực và làm chủ và phát triển bản thân bao gồm: + Năng lực tự học + Năng lực giải quyết vấn đề + Năng lực sáng tạo + Năng lực tự quản lý - Nhóm năng lực về quan hệ xã hội bao gồm: + Năng lực giao tiếp + Năng lực hợp tác - Nhóm năng lực công cụ bao gồm: + Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông + Năng lực sử dụng ngôn ngữ + Năng lực tính toán 1.
Năng đặc thù môn học Năng lực đặc thù của môn học là năng lực mà môn học đó có ưu thế hình thành và phát triển. Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau. Bao gồm: + Năng lực ngôn ngữ + Năng lực tính toán 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Năng lực tìm hiểu tự nhiên, xã hội + Năng lực công nghệ + Năng lực thẩm mỹ + Năng lực tin học + Năng lực thể chất 1. Năng lực đặc thù của môn hóa học + Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học + Năng lực thực hành hóa học + Năng lực tính toán hóa học + Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học + Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống 1.
Các năng lực cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông Chương trình giáo dục phổ thông mới đã xác định được 10 năng lực cốt lõi mà bất kì người nào cũng cần để sống và làm việc. Trong số đó, 3 năng lực chung mà môn học và hoạt động giáo dục nào cũng cần và có thể hình thành, phát triển cho học sinh bao gồm: , năng lực hợp tác, năng lực tự chủ và năng lực sáng tạo. Nhóm thứ 2 là năng lực đặc thù do một hoặc một vài môn học kiến tạo thành, bao gồm: năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ, năng lực tính toán, năng lực tin học, năng lực thể chất, năng lực tìm hiểu tự nhiên xã hội, năng lực công nghệ. Chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, ngoài việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt của học sinh.
Đánh giá năng lực 1. Đánh giá Đánh giá là hoạt động rất quan trọng trong quá trình dạy học, nó được thực hiện bởi cả GV và HS. Đánh giá là quá trình hình thành những nhận 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định, phán đoán về kết quả của công việc, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và mức độ hiệu quả của công việc. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu: đánh giá trong dạy học là quá trình thu thập những thông tin về sản phẩm của HS khi thực hiện các hoạt động học tập, qua đó xác định mức độ đạt được so với mục tiêu đặt ra, và xác nhận sự tiến bộ của bản thân người học, từ đó có những biện pháp để điều chỉnh việc dạy và học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc [1].
Đánh giá năng lực Để đánh giá năng lực ta không chỉ đánh giá qua các kiến thức trong nhà trường mà các kiến thức phải có sự liên hệ với thực tế, phải gắn liền với bối cảnh hoạt động và phải có sự vận động sáng tạo các kiến thức và kĩ năng vào thực tiễn. Đánh giá năng lực không chỉ thông qua đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ hoặc hành động học tập mà nó còn bao hàm cả việc đo lường khả năng tiềm ẩn của HS và đo lường quá trình sử dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập tới một mức chuẩn đã đề ra. Từ những quan điểm trên có thể xác định đánh giá năng lực người học là quá trình thu thập thông tin về các sản phẩm người học đạt được khi giải quyết vấn đề học tập; phân tích, xử lí các sản phẩm đó dựa vào những tiêu chí nhất định nhằm xác định mức độ năng lực người học đạt được để đề xuất quá trình rèn luyện tiếp theo.