Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIÁO VIÊN MÔN CÔNG NGHỆ CẤP TRUNG HỌC CỞ SỞ 1. Nghiên cứu ngoài nước Tư tưởng giáo dục định hướng cuộc sống “Học để biết - Học để làm - Học để cùng chung sống - Học để tự khẳng định mình" đã được Unesco nêu ra từ năm 1996. Như vậy giáo dục có nhiệm vụ chuẩn bị cho con người giải quyết các tình huống của cuộc sống. Qua đó có thể thấy Unesco từ lâu đã đề xướng giáo dục nhằm mục tiêu phát triển năng lực.
Mahmood (2013) nhận thấy rằng, hiệu suất của giáo viên bao gồm trình độ học vấn của giáo viên, chất lượng đào tạo giáo viên, kinh nghiệm giảng dạy, thực hành sư phạm, phát triển chuyên môn, cố vấn, huấn luyện, kiến thức môn học, cống hiến, mức độ cam kết và khả năng quản lý lớp học. Các yêu cầu đối với giáo viên, lãnh đạo nhà trường và các nhà giáo dục giáo viên đang gia tăng và thay đổi. Họ được kêu gọi đóng một vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa giáo dục [10]. Theo Lerninhalte nach Kompetenzbegriff, nội dung học tập theo quan điểm phát triển năng lực là học nội dung chuyên môn, học phương pháp – chiến lược, học giao tiếp - xã hội, học trải nghiệm – đánh giá từ đó phát triển đầy đủ năng lực chuyên môn, phương pháp, xã hội và năng lực tự chủ [5].
Wilhelm von Humboldt cho rằng: Giáo dục phổ thông cho mọi người trước đào tạo nghề nghiệp, cần thống nhất các cấp học, giáo dục mang đến sự phát triển cá nhân. Từ đó giáo dục có nhiệm vụ giúp con người phát triển toàn diện [5]. Đầu năm 2018, trong Hội thảo sách giáo khoa và chương trình giáo dục mới tại Phần Lan, các diễn giả: Eenariina Hamalainen, Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường cũng đã mang đến cái nhìn tổng quan từ kinh nghiệm quốc tế về sách giáo khoa theo định 5 Luan van hướng phát triển năng lực. Những kinh nghiệm quốc tế về dạy học, tổ chức học tập cho thấy rất cần thiết trang bị cho giáo viên những năng lực dạy học cần thiết đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới [13].
Ở Trung Quốc, giáo viên được đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu hành động trong thực tiễn hiệu quả, với những giáo viên giỏi nhất sẽ hỗ trợ giáo viên mới và giúp cải thiện chất lượng bài học. Chính quyền ở tỉnh Thượng Hải của Trung Quốc nhấn mạnh việc cung cấp cho các giáo viên tương lai những kỹ năng họ cần cho nghiên cứu hành động và phương pháp cải thiện hệ thống giáo dục của họ theo thời gian dựa vào nghiên cứu được thực hiện bởi các giáo viên [22]. Học viện Giáo dục Quốc gia Singapore với tư cách là một tổ chức giáo dục giáo viên đại học tìm cách cung cấp nền tảng lý thuyết để tạo ra giáo viên tư duy trực tiếp, đồng thời có quan hệ đối tác mạnh mẽ với các bên liên quan chính và các trường để đảm bảo thực hành lâm sàng mạnh mẽ và thực tế về chuyên môn trong phát triển giáo viên. Mô hình TE21 mới của nó tìm cách tăng cường các yếu tố chính của giáo dục giáo viên, bao gồm triết lý nền tảng, chương trình giảng dạy, kết quả mong muốn cho giáo viên của chúng tôi và con đường học thuật.
Đây được coi là những điều kiện tiên quyết thiết yếu trong việc đáp ứng những thách thức của lớp học thế kỷ 21 [22]. Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong xây dựng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông. Ủy ban quốc gia chuẩn nghề dạy - được thành lập năm 1987 - đã đề xuất 5 điểm cốt lõi để các bang vận dụng. Dựa vào 5 đề xuất cốt lõi đó, mỗi bang đã xây dựng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông của bang mình [28].
+ Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học của họ; + Giáo viên phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình; + Giáo viên phải có trách nhiệm quản lý và hướng dẫn học sinh học tập; + Giáo viên phải suy nghĩ một cách hệ thống về thực tế hành nghề của họ và học tập qua trải nghiệm; + Giáo viên phải là thành viên của cộng đồng học tập. 6 Luan van Theo nghị quyết Hội nghị Bộ trưởng Văn hoá Giáo dục các bang trong Liên bang (2004) thì Chuẩn đào tạo giáo viên là những yêu cầu mà mọi giáo viên phải đáp ứng. Theo đó, những nét chính về hình ảnh nghề nghiệp của người giáo viên là: Giáo viên là những chuyên gia về dạy và học. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá quá trình dạy và học [27].
Giáo viên phải ý thức được rằng, nhiệm vụ của họ gắn bó chặt chẽ với các giờ lên lớp và với cuộc sống nhà trường. Giáo viên thực thi nhiệm vụ đánh giá và tư vấn một cách công bằng có trách nhiệm. Xu hướng “cải cách dựa trên các chuẩn”, Nhiều nước đã tiến hành xây dựng bộ chuẩn cho giáo dục của nước mình: Chuẩn chất lượng giáo dục, chuẩn nhà trường, chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, chuẩn giáo viên. Sự phát triển của công nghệ đã dần dần làm thay đổi vai trò và chức năng của giáo viên, nên Okworo Gibson Samuel et al.
Thế kỷ XXI là thời đại của tri thức và khoa học công nghệ, làn sóng hội nhập và phát triển luôn vận hành như một con thoi không suốt, cuộc cách mạng 4.0 đặt ra nhiều thách thức với ngành giáo dục. Nếu nhà giáo chỉ cung cấp, truyền dạy thông tin tri thức của các bộ môn khoa học thì ngày nay, người máy và các thiết bị thông minh sẽ làm tốt hơn các nhà giáo. Nhưng người máy và thiết bị thông minh không thể thay thế thầy giáo, cô giáo trong các trường học vì thầy giáo, cô giáo còn có nhiệm vụ giúp học sinh phát triển phẩm chất, năng lực. Học sinh không chỉ học để có điểm cao, thi đỗ mà phải có phẩm chất và năng lực của người công dân thế kỷ 21 [23].
Tương tự như vậy, theo Teemu Valtonen et al. Nhóm tác giả đã tập trung vào các kỹ năng của thế kỷ 21 dưới góc độ của mô hình TPACK, một mô hình lý thuyết nổi tiếng và rất phù hợp cho việc nghiên cứu về ứng dụng ICT trong dạy học của giáo viên. Nghiên cứu trong nước Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động mạnh đến nền giáo dục VN các cuộc hội thảo tập huấn diễn ra liên tục nhằm làm thay đổi cấp thiết do nhu cầu xã hội hội nhập, có nhiều hội thảo được tổ chức nhằm giúp cho cán bộ quản lý và giáo viên các trường trung học nắm vững thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để tổ chức việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh cho sát với tình hình thực tế trường học, đồng thời tạo dựng môi trường chia sẻ kinh nghiệm tổ chức dạy học theo định hướng phát triển học sinh. Hội thảo đã nghe đóng góp tâm huyết của các thầy cô giáo đang trực tiếp đứng lớp, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các cán bộ quản lý giáo dục qua những bài tham luận.
Nghiên cứu của Lê Công Triêm và Nguyễn Đức Vũ (2013) đã nghiên cứu một số giải pháp nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm và năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên trẻ. Theo đó, các giải pháp Bồi dưỡng NVSP trang bị kiến thức cần thiết về khoa học giáo dục các phương pháp về kiểm tra đánh giá. Tạo cơ hội cho NCKH, Tạo cơ hội học nâng cao, cơ chế chăm lo tốt hơn cho đời sống GV, Xây dựng cơ chế pháp lý phát triển nghề nghiệp, phát triển nâng cao năng lực từ chính bản thân. Kết quả cho thấy những điểm mạnh về thực hiện kế hoạch dạy học và tự bồi dưỡng kiến thức kỹ năng dạy học nhưng còn bất cập.
Khả năng vận dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, đánh giá kết quả, lập kế hoạch giảng dạy ảnh hưởng bởi đời sống và môi trường giáo dục…. 8 Luan van Bùi Văn Hồng (2017) đã phân tích sự đa dạng về nhu cầu học tập của người học dưới sự tác động của công nghệ, từ đó đề xuất việc tích hợp kiến thức công nghệ và kỹ năng thực hành nghề trong chương trình đào tạo giáo viên kỹ thuật tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM theo mô hình TPACK, với mục tiêu đào tạo giáo viên kỹ thuật giỏi về chuyên môn Kỹ thuật, kỹ năng thực hành nghề, phương pháp dạy học và kỹ năng vận dụng công nghệ số trong dạy học. Qua đó, tác giả đã đề xuất các thành phần năng lực năng lực được tích hợp trong chương trình đào tạo giáo viên kỹ thuật bao gồm: Năng lực về chuyên môn Kỹ thuật; Năng lực về thực hành Kỹ năng nghề; Năng lực về nghiệp vụ Sư phạm Kỹ thuật; Năng lực về ứng dụng công nghệ trong dạy học [24].
Để triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới, Tiến sĩ Bùi Xuân Dũng, Trường Cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Đối với giáo viên, việc thực hiện chương trình sẽ nảy sinh những vấn đề cần giải quyết như thay đổi cơ cấu đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học Cơ sở, giáo viên ở cấp học này phải chuyển từ dạy đơn môn sang dạy môn học có tính tích hợp rộng. Sách giáo khoa được soạn lại theo cấu trúc môn học tích hợp. Cơ cấu đội ngũ giáo viên phải đa dạng hơn. Quản lý kế hoạch dạy học ở nhà trường sẽ phức tạp hơn.
Chương trình phải được thiết kế có sự gắn kết, liên thông với nội dung đào tạo ở các trường nghề, trường đại học. Vì vậy, giáo viên và cán bộ quản lý nhà trường phải được đào tạo lại, bồi dưỡng theo hướng trang bị kiến thức chuyên sâu; năng lực tư vấn nghề nghiệp, lựa chọn môn học. Những vấn đề này phải được quan tâm giải quyết mới bảo đảm tính hiệu quả, khả thi của chương trình mới. Đinh Quang Báo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chia sẻ, để đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông, giáo viên cần phân tích được những đổi mới trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, chương trình môn học, hoạt động giáo dục, sách giáo khoa môn học.