CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH 1. Dạy học phân hóa 1. Cơ sở khoa học của DH phân hóa 1.
Thuyết về “vùng phát triển gần nhất” Theo Vygotsky [38] thì chỗ tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em là vùng phát triển gần. Vùng đó là hoảng cách giữa trình độ hiện tại của HS và trình độ phát triển cao hơn cần vươn tới. Cách tốt nhất để hình thành và phát triển NL nhận thức, NL GQVĐ, NL sáng tạo của HS,. là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức, thông qua hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh iến thức, phát triển NL và hình thành quan điểm đạo đức.
Vùng phát triển gần nhất Những ỹ n ng quá hó để trẻ tự mình thành thạo, nhưng với sự hướng dẫn và hích lệ từ Điều đã biết Điều chưa biết một người thông thạo, trẻ có hả n ng đạt được chúng. Sơ đồ mô tả vùng phát triển gần nhất theo L. Vygotsky Ví dụ: Một đứa trẻ có thể hông tự mình giải được bài toán hóa học và sẽ mất một hoảng thời gian há lâu để thực hiện được việc đó. Nhưng trẻ có thể thực hiện được nếu có tương tác với người thông thạo hơn (GV, các bạn cùng lớp, nhóm…).
Từ đó trẻ sẽ phát triển được ỹ n ng và có hả n ng ứng dụng vào các bài tập tương tự trong tương lai. Vygots y cũng cho rằng tương tác với bạn cùng trang lứa là cách thức hữu hiệu để phát triển các ỹ n ng và chiến lược. Ông huyến hích các GV, trong phạm vi vùng phát triển gần, sử dụng các bài tập hợp tác, trong đó, trẻ phát triển những NL còn yếu với sự giúp đỡ từ những bạn đồng trang lứa có NL hơn. Thuyết đa trí tuệ Theo [26], Tiến sĩ Howard Gardner – một nhà tâm lý học nổi tiếng – đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề “Frames of Mind” (1983) tạm dịch là “ Cơ cấu của trí tuệ”, trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences).
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tóm tắt – thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner Các loại trí thông minh Khả năng và nhận thức Thông minh về ngôn ngữ Các con chữ và ngôn ngữ Thông minh về logic – hóa học Logic và các con số Thông minh âm nhạc Âm nhạc, âm thanh, giai điệu Thông minh về chuyển động cơ thể Kiểm soát chuyển động cơ thể Thông minh về thị giác và hông gian Các hình ảnh và hông gian Thông minh về tương tác Cảm xúc của những người hác Thông minh về nội tâm Tự nhận thức Theo Garder, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như “là hả n ng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường v n hóa” và trí thông minh cũng hông thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ. Lý thuyết của Garder đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều tồn tại một vài iểu thông minh trên, tuy nhiên, sẽ có iểu thông minh trội hơn trong mỗi người. Bên cạnh đó, Gardner đã chỉ ra rằng trong trường học thông thường chỉ đánh giá một HS thông qua 2 loại trí thông minh là trí thông minh về ngôn ngữ và trí thông minh về logic/hóa học, và điều này là hông chính xác.
Trường học đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp…đồng thời chèo lái tất cả mọi HS đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung sự đánh giá và phán xét. Thuyết về phong cách học tập Xem xét hái niệm phong cách học tập của các tác giả hác nhau ([4], [35], [36], [37]), tôi thấy rằng: phong cách học tập có những nội dung cốt lõi sau đây: + Phong cách học tập là những đặc điểm riêng của cá nhân. + Phong cách học tập bao gồm các đặc điểm về nhận thức, xúc cảm, sinh lý. + Phong cách học tập chỉ ra cách thức ưu thế của cá nhân tiếp nhận, xử lý và lưu giữ thông tin trong môi trường học tập.
+ Phong cách học tập tương đối bền vững. Như vậy, chúng tôi hiểu về phong cách học tập như sau: “Phong cách học tập là những đặc điểm tâm lý ưu thế, tương đối bền vững của cá nhân, qui định cách tiếp nhận, xử lý và lưu giữ thông tin trong môi trường học tập”. Phong cách học tập từ đâu mà có? Các nhà nghiên cứu cho rằng nguồn gốc của phong cách học tập xuất phát từ cấu tạo gene (gien), inh nghiệm học tập và 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ảnh hưởng của nền v n hóa – xã hội mà cá nhân sinh sống. Khái niệm dạy học phân hoá 1.
Khái niệm a) Sự cần thiết phải dạy học phân hóa Một là do đặc điểm của đối tượng người học, mỗi học sinh là một cá nhân có tiềm n ng riêng, có trí thông minh, tình cảm và động lực học tập hác nhau. Nhà trường cần trang bị cho học sinh nền học vấn phổ thông, đồng thời có nhiệm vụ giúp mỗi học sinh phát triển tối đa n ng lực cá nhân của mình. Dạy học phân hóa tốt sẽ đáp ứng và phát huy được nguyện vọng, sở trường và phù hợp với điều iện, hoàn cảnh của các cá nhân hác nhau. Hai là do yêu cầu phát triển hoa học và đòi hỏi của thị trường lao động buộc nhà trường phổ thông, nhất là bậc THPT cần dạy học phân hóa để cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chuyên sâu về một lĩnh vực hoa học hoặc ngành nghề chuyên biệt.
Phân hóa là để đáp ứng yêu cầu phân công lao động trong xã hội. b) Khái niệm dạy học phân hóa Theo GS Nguyễn Bá Kim: Dạy học phân hoá xuất phát từ sự biện chứng thống nhất và phân hoá, từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt tất cả các mục đích dạy học, đồng thời huyến hích phát triển tối đa và tối ưu những hả n ng của từng cá nhân trên cơ sở ết hợp giữa giáo dục “đại trà” với giáo dục “mũi nhọn”, giữa phổ cập với nâng cao trong dạy học. Như vậy có thể xem dạy học phân hoá là một hình thức dạy học mà người dạy dựa vào những hác biệt về n ng lực, sở thích cũng như các điều iện học tập của mỗi cá nhân người học để điều chỉnh cách dạy phù hợp nhằm phát triển tốt nhất cho từng cá nhân người học đảm bảo hiệu quả giáo dục cao nhất. Dạy học phân hoá được coi là một hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh được hiểu là quá trình giáo viên tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh bao gồm: - Huy động mọi hả n ng của từng học sinh để tự học sinh tìm tòi, hám phá ra những nội dung mới.
- Phân hoá học sinh theo trình độ nhận thức, giao nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm đối tượng tạo điều iện để học sinh tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề, tự mình hoặc cùng các bạn trong nhóm, trong lớp lập ế hoạch hợp lý nhất để giải quyết vấn đề. - Tập trung mọi cố gắng để phát triển n ng lực, sở trường của mỗi cá nhân, tạo cho học sinh có niềm tin và niềm vui trong học tập. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm cơ bản của dạy học phân hóa Phát hiện và bù đắp lỗ hổng iến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập.
Biến niềm đam mê trong cuộc sống thành động lực trong học tập. DHPH là con đường ngắn nhất để đạt mục đích của DH đồng loạt. Ý nghĩa, tầm quan trọng của dạy học phân hoá 1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của dạy học phân hóa DHPH yêu cầu GV phải phát triển ở mỗi HS hả n ng học tập, tiếp thu iến thức hóa học, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng HS có n ng hiếu về hóa, phát triển NL tư duy hóa học cho tất cả HS ở trình độ chung.
DHPH đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu DH, đồng thời huyến hích phát triển tối đa hả n ng của từng cá nhân HS xuất phát từ thực tiễn có sự hác nhau về trình độ nhận thức của các HS trong cùng một lớp học. DHPH được coi là một xu hướng DH mới, hiện đại. Đó là một PPDH phát huy được tính tích cực học tập của HS. Không có một PPDH nào là tối ưu, mỗi PP đều có giá trị riêng.
Tính hiệu quả mỗi PP phụ thuộc vào người sử dụng biết phát triển và thích nghi nó đến mức độ nào. Trong DHPH, có thể sử dụng ết hợp được với nhiều PPDH hác như: DH phát hiện và GQVĐ, DH hợp tác, DH sử dụng các phương tiện trực quan, thí nghiệm… Sự vận dụng linh hoạt, hợp lý các PP sẽ đem lại thành công trong bài giảng của thầy và đạt được hiệu quả cao nhất trong học tập của trò. Vai trò của dạy học phân hóa trong hoạt động dạy học nhóm Ưu điểm của DH nhóm theo hướng phân hóa là: + Tạo ra sự tranh đua, nhiều cách nghĩ, nhiều phương án đối với HS. + HS được hỗ trợ nhau đóng góp những ý iến riêng vào ý iến chung.
+ Giúp HS chuyển từ thói quen chỉ nghe, ghi nhớ sang hoạt động cùng nhau tìm iếm, hình thành iến thức bằng trí tuệ chung. Từ đó tạo cho HS ỹ n ng hoạt động tập thể và hẳng định được mình thông qua tập thể. Trong DH nhóm, nếu GV chia nhóm một cách phù hợp thì chính các HS trong nhóm có thể giúp nhau hoàn thành được nhiệm vụ học tập, đây là một vấn đề quan trọng nâng cao được hiệu quả DH. Vì vậy, có thể nói DH theo nhóm và DH hợp tác có mỗi quan hệ mật thiết với nhau.
Các yếu tố có thể sử dụng trong dạy học phân hoá 1. Phân hóa theo mức độ nhận thức Thang bậc nhận thức theo Bloom mới (n m 2001) gồm 6 bậc nhận thức từ thấp đến cao [7]: 1. Nhớ: nhớ lại được, ghi lại, nhắc lại một cách thuần túy các kiến thức 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hiểu: Diễn giải ý nghĩa, viết ra, trình bày thông tin, minh họa, phân loại, tóm tắt suy luận ra, so sánh và giải thích các kiến thức đã biết 3.