Chương 1. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử Việt Nam ở trường THPT - Lí luận và thực tiễn Chương 2. Các biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học chủ đề lịch sử Việt Nam lớp 11 ở trường THPT 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Cơ sở xuất phát của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trong dạy học chủ đề lịch sử ở trường THPT * Mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo Chúng tôi căn cứ vào các văn bản sau để nghiên cứu vấn đề phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trong dạy học các chủ đề lịch sử ở trường THPT: Điều 27, Luật Giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 – sửa đổi và bổ sung năm 2009) quy định rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) xác định rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”. Đồng thời, nhấn mạnh: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân”.
Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội ngày 28/11/2014 mang tên Nghị quyết về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông có nhấn mạnh đến mục tiêu, yêu cầu đổi mới chương trình, SGK là “chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa trí, đức, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”. Quyết định 404/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 27 tháng 03 năm 2015 mang tên Quyết định phê duyệt đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất cũng đã nhấn mạnh: “Chương trình mới, sách giáo khoa mới được xây dựng theo hướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả về phẩm chất và năng lực; chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, nhân cách, lối sống; phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu và định hướng nghề nghiệp cho mỗi học sinh; tăng cường năng lực ngoại ngữ, tin học và các kĩ năng sống, làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng, phát huy thành quả khoa học công nghệ thế giới, nhất là công nghệ giáo dục và công nghệ thông tin.” Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (trong chương trình giáo dục phổ thông mới) đã xác định rõ 8 năng lực cần hình thành cho HS: (1) Năng lực tự học với các năng lực cụ thể như: Xác định mục tiêu học tập, lập kế hoạch và thực hiện cách học, đánh giá và điều chỉnh việc học. (2) Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo với các nội dung: Phát hiện làm rõ vấn đề, đề xuất lựa chọn giải pháp, thực hiện và đánh giá giải quyết vấn đề, nhận ra ý tưởng mới, hình thành và triển khai ý tưởng mới. (3) Năng lực thẩm mĩ với các nội dung: Nhận ra cái đẹp, diễn tả cái đẹp, tạo ra cái đẹp.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (4) Năng lực thể chất với các nội dung: Sống thích ứng và hài hòa với môi trường, rèn luyện sức khỏe thể lực, nâng cao sức khỏe tinh thần. (5) Năng lực giao tiếp với các nội dung: Sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, sử dụng ngoại ngữ, xác định mục đích giao tiếp, thể hiện thái độ giao tiếp, lựa chọn nội dung và phương thức giao tiếp. (6) Năng lực hợp tác với các nội dung: Xác định mục đích và phương thức hợp tác, Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân, xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác, tổ chức và thuyết phục người khác, đánh giá hoạt động hợp tác. (7) Năng lực tính toán với các nội dung: Sử dụng các phép tính và đo lường cơ bản, sử dụng ngôn ngữ toán, sử dụng công cụ tính toán.
(8) Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) với các nội dung: Năng lực sử dụng và quản lí các phương tiện, công cụ của công nghệ kĩ thuật số; năng lực nhận biết, ứng xử phù hợp với những chuẩn mực đạo đức trong xã hội số hóa; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong môi trường công nghệ tri thức; năng lực học tập, tự học mọi lúc, mọi nơi, suốt đời với sự hỗ trợ của ICT; năng lực giao tiếp hòa nhập, hợp tác qua môi trường, dịch vụ ICT. * Đặc điểm của tri thức lịch sử Tri thức lịch sử có nhiều đặc điểm, trong đó có tính lôgic, tính hệ thống. Đặc điểm này chi phối nội dung kiến thức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy, khi các nội dung được tích hợp lại thành những chủ đề sẽ giúp HS rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh các sự kiện từ đó tìm ra bản chất, quy luật chi phối sự phát triển của lịch sử.
Dạy học theo chủ đề góp phần tạo tư duy lôgic cho HS. Điều này được thể hiện rất rõ trong việc thực hiện “tính kế thừa” trong nhận thức các nội dung của lịch sử dân tộc và thế giới từ cổ đại đến hiện đại làm cho HS hiểu rõ sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, đồng thời giúp cho HS nhận thấy mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, tính toàn 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diện của lịch sử. Đặc biệt, khi các nội dung kiến thức lịch sử được tích hợp thành chủ đề giúp cho kiến thức của HS mang tính hệ thống và luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Các kiến thức được khai thác từ các chủ đề có thể liên quan đến một hay nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên ngành khác nhau.
* Yêu cầu phát huy tính tích cực học tập của HS Dạy học theo chủ đề sẽ tăng cường khả năng hiểu bài, khả năng huy động những kiến thức đã học để hiểu sâu, toàn diện các kiến thức lịch sử cho HS. Trên cơ sở đó HS sáng tạo trong học tập. Dạy học theo chủ đề hướng dẫn HS biết cách vận dụng những kiến thức đã học, đã biết vào tiếp thu kiến thức mới. Do vậy tiết kiệm được thời gian trong dạy học.
GV sẽ không dạy lại những nội dung HS đã biết, tránh được sự trùng lặp nội dung kiến thức làm cho HS nhàm chán. Dạy học theo chủ đề giúp tối đa hóa sự tham gia của người học, hạn chế đến mức tối thiểu quyết định và can thiệp, áp đặt của người dạy trong quá trình học tập. Dạy học theo chủ đề là cách dạy học hiệu quả trong việc hướng dẫn HS huy động những kiến thức đã học, rèn luyện các kỹ năng học tập. Vì vậy, phát huy tính tích cực, chủ động và gây hứng thú học tập cho HS.
* Xu hướng đổi mới dạy học của thế giới Ở Việt Nam, dạy học theo chủ đề mới chỉ được đề cập trong mấy năm gần đây. Tuy nhiên, đối với thế giới, dạy học theo chủ đề đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Trong nội dung cải cách giáo dục ở nhiều nước trên thế giới, SGK đã được biên soạn lại dưới dạng các chủ đề. Lấy ví dụ gần đây nhất đó là Phần Lan.
Nhiều năm qua, Phần Lan có một nền giáo dục rất hiệu quả, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu trên các bảng xếp hạng khả năng đọc hiểu và tính toán của thế giới. Chỉ có một số quốc gia châu Á như Singapore và Trung Quốc có thứ hạng cao hơn Phần Lan trong bảng xếp hạng của Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA). Chính trị gia và chuyên gia giáo dục từ khắp nơi trên thế giới - bao gồm cả Anh - đã đến Helsinki với hy vọng có thể tìm hiểu và nhân 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rộng những bí quyết thành công của quốc gia Bắc Âu này. Đáng chú ý hơn là Phần Lan đang chuẩn bị triển khai những chương trình cải cách giáo dục cấp tiến nhất từ trước tới nay – loại bỏ việc “dạy theo môn học” truyền thống và ủng hộ việc “giảng dạy theo chủ đề” [35].
Như vậy, dạy học theo chủ đề không còn là cách dạy học mới mà nó đã trở thành xu thế trên thế giới. Là xu thế tiến bộ trên thế giới, do đó chúng ta cũng phải có những thay đổi cho phù hợp. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia”. Ngày nay, có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực.
Trường phái các nhà nghiên cứu Anh cho rằng năng lực được giới hạn bởi 3 yếu tố: kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và thái độ (attitude); còn các nhà nghiên cứu thuộc trường phái Mĩ lại quan niệm bất kì yếu tố nào dẫn đến thành công, đạt hiệu quả cao để hoàn thành một công việc đều xem là năng lực. Dưới góc độ tâm lí, năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lí độc đáo của cá nhân phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt hiệu quả.