CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Năng lực và phân loại năng lực 1. Khái niệm “năng lực” Theo CTGDPT Quécbec – bộ GD Canada (2004): “NL là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.
Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [37, tr. CTGDPT New Zealand lại nêu một cách ngắn gọn: “NL là một khả năng hành động hiệu quả hoặc sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó.” [39] Trong CTGDPT tổng thể của Việt Nam, khái niệm NL cũng được nêu rõ: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.36] Mặc dù có những cách biểu đạt khác nhau, song tựu chung lại, năng lực có thể được hiểu một cách đơn giản là khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, gắn với một loại hoạt động cụ thể nào đó. Năng lực là một yếu tố cơ bản của nhân cách nên mang dấu ấn cá nhân, thể hiện tính chủ quan trong hành động và được hình thành theo quy luật hình thành và phát triển nhân cách, trong đó tính tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhân đóng vai trò quyết định. Năng lực ở mỗi con người có được nhờ vào sự kiên trì học tập, rèn luyện và tích lũy 7 kinh nghiệm của bản thân trong hoạt động thực tiễn.
Mỗi phát biểu dù khác nhau về câu chữ nhưng đều khẳng định: NL là những kiến thức, kĩ năng cá nhân được áp dụng để giải quyết các tình huống một cách có trách nhiệm và hiệu quả bằng những phương tiện, biện pháp, cách thức phù hợp. Trên tinh thần đó, chúng tôi đồng tình với quan điểm của CTGDPT tổng thể của Việt Nam được thông qua vào tháng 7 năm 2017. Phân loại năng lực Phân loại năng lực là một vấn đề phức tạp và cũng có những quan điểm, cách phân loại khác nhau. Dựa trên mỗi quan điểm và tiêu chí khác nhau sẽ có những kết quả phân loại NL khác nhau.
Dựa vào CT thiết kế theo hướng tiếp cận NL của các nước có thể thấy 2 loại chính: Đó là những NL chung (general competence) và NL cụ thể, chuyên biệt (specific competence). “NL chung là NL cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. NL này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Ví dụ, một số NL chung có thể kể đến đó là: “NL tư duy sáng tạo”, “NL hợp tác”, “NL giao tiếp”,… “NL cụ thể, chuyên biệt là NL riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực / môn học nào đó” [37, tr.
Chẳng hạn, với môn Tiếng Việt và Văn học sẽ đảm nhận những NL riêng như “NL đọc diễn cảm”, “NL tiếp nhận, cảm thụ thơ văn”, “NL tạo lập VB”,…; một số NL riêng môn Địa lí là “NL sử dụng bản đồ”, “NL sử dụng số liệu thống kê”; môn Toán là “NL tư duy toán học”, “NL mô hình toán học”, “NL giao tiếp toán học”,… Ở Việt Nam, theo CTGDPT tổng thể, NL được chia làm 2 loại chính: Đó là những NL cốt lõi và năng lực đặc biệt. “NL cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả” [5, tr. Chẳng hạn có thể kể đến những NL cốt lõi sau: “Những NL chung được tất cả các môn học và hoạt động GD góp phần hình thành, phát triển: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp 8 và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo”; “Những NL chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động GD nhất định: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mỹ, NL thể chất” [5, tr. “NL đặc biệt là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kỹ năng sống,… nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người” [5, tr.
Ví dụ như một số người có năng khiếu về âm nhạc có thể nhận biết những âm thanh, nốt nhạc rất nhạy bén; người có năng khiếu về logic toán học có thể tính toán và thực hiện những công việc liên quan đến con số, mô hình,… rất nhanh và chính xác,…. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Dạy học theo hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học hướng tới mục tiêu phát triển tối đa phẩm chất và năng lực của người học thông qua cách thức tổ chức các hoạt động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của giáo viên. Trong mô hình này, người học có thể thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình. Điều đó có nghĩa là người học phải chứng minh mức độ nắm vững và làm chủ các kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực); huy động tổng hợp mọi nguồn lực (kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí,…) trong một môn học hay bối cảnh nhất định, theo tốc độ của riêng mình.
Dạy học phát triển năng lực có 04 đặc điểm chính: Thứ nhất, dạy học theo định hướng phát triển năng lực được thiết kế theo hướng phân hóa dựa trên hứng thú, nhu cầu và nền tảng kiến thức, sở thích cũng như thế mạnh của học sinh. Phương pháp này cho phép người học cá nhân hóa, đa dạng hóa việc học để đáp ứng nhu cầu của bản thân theo hướng có lợi cho họ. Tức là, ngoài số giờ lên lớp theo quy định, học sinh có quyền lựa chọn môn học, hình thức học ở bất kỳ đâu và bất cứ thời điểm nào (học online, học nhóm,…) để giúp học sinh phát triển tối đa năng lực vốn có của mình. Phương pháp học này mang đến sự tự do, linh hoạt cho học sinh, loại 9 bỏ sự bất bình đẳng trong quá trình học tập.
Học sinh được coi là trung tâm của quá trình học và luôn cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Thứ hai, dạy học theo hướng phát triển năng lực định hướng để học sinh có thể tiếp thu kiến thức cần thiết và nâng cao khả năng thực hành, vận dụng kiến thức đã học được. Kiến thức, kỹ năng và cách ứng xử là những “tài nguyên” để các em thực hiện nhiệm vụ cụ thể để hình thành và phát triển năng lực. Thứ ba, dạy học phát triển năng lực xác định và đo lường năng lực đầu ra của học sinh dựa trên mức độ làm chủ kiến thức môn học.
Học sinh thể hiện sự tiến bộ của mình thông qua việc chứng minh năng lực mà không dựa trên khoảng thời gian cố định như học kỳ hay cấp học. Thứ tư, dạy học theo định hướng phát triển năng lực giúp người học có thể chọn cách tiếp nhận các tài liệu học tập kể cả thời điểm và nhịp độ học tập. Điều này khuyến khích khả năng làm việc độc lập và tự chủ của học sinh, phát triển tối đa các kỹ năng để đạt được mục tiêu học tập. Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực Trong dạy học Ngữ văn, chương trình Ngữ văn 2018 cũng quy định mục tiêu chung là hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực.
Trong những năng lực cần hình thành cho HS, bên cạnh các năng lực chung, qua môn Ngữ văn HS còn được phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học. Năng lực ngôn ngữ là “khả năng (hoặc kiến thức) làm một việc gì đó bằng cách sử dụng ngôn ngữ” [6] bao gồm đọc, viết, nói và nghe. Năng lực ngôn ngữ được tạo nên bởi các thành tố: Những kiến thức về ngôn ngữ gồm hệ thống chữ cái, chính tả, phát âm, từ vựng, ngữ pháp, tu từ, …; Những kĩ năng về ngôn ngữ gồm hai kĩ năng dùng để tiếp nhận từ bên ngoài (đọc, nghe) và hai kĩ năng cần cho tạo lập di chủ thể tạo ra (nói và viết); Tình cảm, thái độ đối với ngôn ngữ và trong việc sử dụng tiếng Việt. Trong đó, yêu cầu về kĩ 10 năng đọc là không chỉ hiểu nội dung, ý nghĩa của văn bản, những đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt mà còn phải chú trọng đến yêu cầu phân tích, đánh giá nội dung, hình thức, qua đó biết cách đọc và xử lí thông tin với những văn bản tương tự.
Qua đọc hiểu, HS biết liên hệ, mở rộng, so sánh văn bản này với văn bản khác, từ đó có cách nhìn, cách nghĩ cách bình luận, đánh giá theo quan điểm cá nhân… Năng lực văn học là “khả năng hiểu một văn bản của người đọc trên cơ sở biết rõ về sự diễn giải hợp lí hệ thống tín hiệu hoặc mã của văn học”. Năng lực văn học được tạo nên bởi các thành tố: Những kiến thức về văn học (hiểu biết về lịch sử văn học, tác phẩm văn học và lí luận văn học); Những kĩ năng văn học (chủ yếu là đọc hiểu văn bản, phân tích và đánh giá các giá trị văn học; Tình cảm, thái độ với tiếp nhận văn học (lòng say mê văn học, ý thức tìm tòi, khám phá các giá trị sâu sắc, độc đáo của tác phẩm văn học trong quá trình tiếp nhận thưởng thức văn học. Để hình thành và phát triển cho HS những năng lực đó, việc dạy học đọc hiểu văn bản theo định hướng phát triển năng lực đòi hỏi GV phải tổ chức hoạt động trong giờ học để HS làm việc, trao đổi, tranh luận, trên cơ sở đó HS từ làm, từ thực hành mà rút ra những kết luận và có được hiểu biết tri thức. Cũng thông qua hoạt động, qua thực hành mà HS hiểu và nhớ lâu hơn, đồng thời các em được hình thành phương pháp, biết cạc tìm hiểu một vấn đề, phân tích, đánh giá một văn bản.
Kết quả là HS vừa biết, vừa làm được, vận dụng được kiến thức vào thực tiễn. Yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 về dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực 1.