Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Nghiên cứu về cố vấn học tập (CVHT) trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng mà nhiều học giả trên thế giới đã và đang tiếp tục thực hiện. Theo nghiên cứu của Tổ công tác Giáo dục Hoa Kỳ năm 1988, để có các chương trình và các khóa học trở nên mạch lạc và quan trọng đối với sinh viên đòi hỏi phải có cố vấn học tập.
Cố vấn chính là sự gắn kết, nối kết các bộ phận thành một tổng thể. CVHT tăng cường gắn kết, giúp đảm bảo thành công trong học tập, làm nên sự khác biệt trong cuộc sống của học sinh. Cả học sinh và phụ huynh đều mong đợi và đánh giá cao điều này. Mặc dù hầu hết các giáo viên - CVHT không tham gia hàng ngày vào công tác cố vấn, nhưng các trường có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ các nguồn lực cho giáo viên, như tạo điều kiện về thời gian, công nhận các giảng viên và nhân viên tích cực thông qua hệ thống khen thưởng của trường ĐH.
Nghiên cứu của Kuh, Kinzie, Schuh, Whitt (2005) và Pascarella và Terenzini (2005) đã nhấn manh về tầm quan trọng của việc hướng dẫn những kinh nghiệm học tập bên ngoài lớp học cho sinh viên. Theo Crockett (1985), công tác CVHT được xem là một trong những điều kiện hiệu quả nhất, giúp cho sự phát triển của sinh viên về trí tuệ, nhân cách và xã hội. Một cách cụ thể hơn, Crockett cho rằng: "Công tác CVHT là một tiến trình trợ giúp sinh viên sáng rõ trong việc lựa chọn các mục tiêu nghề nghiệp, mục tiêu cuộc sống; đồng thời giúp sinh viên phát triển các kế hoạch học tập, nhằm thực hiện các mục tiêu đó" (dẫn theo Martin, 2004, tr. 5 download by : skknchat@gmail.com Nghiên cứu về hoạt động của CVHT trên thực tế cũng có thể tính từ đầu những năm 1960 khi các nghiên cứu của Chickering (1969), Erikson (1963), janford (1967) (trích theo Daller, 1997) Jean Piaget (1896-1980), Benjamin Bloom (1956), v.
lần lượt được công bố. Các lý thuyết này đã giúp cho việc tư vấn của CVHT trở nên dễ dàng hơn, đồng thời công việc CVHT được đẩy lên một bước chuyên nghiệp hơn. Hoa Kỳ được coi là nơi đầu tiên hình thành hoạt động CVHT trong trường ĐH, sau đó ở Anh, Úc và một số nước châu Âu và châu Á. Để tiếp cận với hoạt động của CVHT, các nghiên cứu vận dụng các lý thuyết ứng dụng trong giáo dục, quản lý và trong tham vấn.
Các lý thuyết này giúp cho các CVHT tiếp cận với sinh viên một cách toàn diện. Xét từ góc độ giáo dục, quá trình xã hội hóa cá nhân liên quan đến vấn đề tôn giáo, sắc tộc, giới tính, phân tầng xã hội, vấn đề người khuyết tật, người đồng tính.đã làm đa dạng hóa các nhóm sinh viên, chúng đòi hòi các CVHT không thể không lưu ý khi cố vấn cho sinh viên (King, 2005; McKewen, 2003). Trong lĩnh vực CVHT, các lý thuyết phát triển con người (còn được gọi là các lý thuyết phát triển sinh viên) có thể được đặt vào một trong ba khía cạnh phát triển ở người học, như lý thuyết hình thành bản sắc xã hội, lý thuyết phát triển nhận thức và lý thuyết phát triển về nhân cách - nghề nghiệp (Strange, 2004; King, 2000). Có nhiều mô hình CVHT khác nhau, tùy theo quan điểm của các nhà nghiên cứu.
Trên thế giới, có một sổ mô hình CVHT trong các trường ĐH đã được áp dụng nhằm có những tác động tích cực đến việc học tập của người học. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi tập trung làm rõ một số mô hình CVHT theo quan điểm tổ chức quản lý. Các mô hình CVHT này được áp dụng trong nhiều trường ĐH trên thế giới (chủ yếu trong các trường ĐH ở Mỹ). Parđee (2000), Habley (1983, 2004) nghiên cứu hoạt động cùa CVHT trong các trường ĐH chủ yếu ở Mỹ đã phân loại 3 dạng mô hình CVHT như sau: Mô hình phi tập trung (mô hình có sự phân cấp), Mô hình tập trung và Mô 6 download by : skknchat@gmail.com hình chia sẻ (dẫn theo Roger Gabb, 2007; Margaret c.
Trong mô hình có sự phân cấp, hoạt động CVHT được thực hiện bời các giảng viên và nhân viên trong các khoa; ở mô hình tập trung, toàn bộ hoạt động CVHT được diễn ra ở các đơn vị, trung tâm có sự quản lý, như các trung tâm tham vấn và cố vấn với một giám đốc và nhân viên cùng làm việc trong một tòa nhà/văn phòng. Trong mô hình chia sẻ, hoạt động CVHT được chia sẻ giữa những đơn vị trung tâm và các giảng viên, nhân viên ở các khoa. Trường ĐH Sussex (Anh) đã áp dụng một mô hình CVHT với sự giúp đỡ của sinh viên - Mô hình cố vấn sinh viên (Roger Gabb, 2007). Bộ phận dịch vụ hỗ trợ sinh viên của trường tuyển dụng khoảng từ 2 đến 5 sinh viên năm trên có kết quả học tập tốt, có thể đáp ứng được nhiệm vụ CVHT để hỗ trợ cho các sinh viên ban đầu.
Với mô hình này, sinh viên sẽ được giới thiệu đển các CVHT sinh viên, Khi phát sinh những vấn đề mới, các cố vấn sinh viên sẽ chuyển vấn đề của sinh viên lên cố vấn cấp cao hơn - người giám sát. Như vậy với hình thức tư vấn này, sinh viên mới nhập trường sẽ được tư vấn bởi các cố vấn đồng đẳng trước khi được giới thiệu đến CVHT chuyên nghiệp. Công việc này được hiểu là sự chuyên tiếp, trung gian giữa SV và CVHT. Ở Anh, hình thức tham gia tư vấn là tự nguyện.
Ở hầu hết các trường ĐH và cao đẳng hình thức CVHT cho SV là một hình thức tự nguyện, SV có quyền chọn tham gia hoặc không tham gia dịch vụ trên. Về phương pháp tiếp cận, các trường sử dụng phương pháp tiếp cận đài sông - học tập (pastoral- academic approaeh) tổng hợp. Thông thường, hoạt động CVHT sẽ được chịu trách nhiệm bởi khoa/ trường. Vì vậy, việc vận hành hệ thống CVHT này như thế nào là tùy thuộc vào sự sắp xếp của khoa/ trường đó.
CVHT không có hoạt động hỗ trợ đặc biệt cho các nhóm SV khác nhau. Trong khi đó ở Mỹ (cũng như ở Úc), hình thức tham gia tư vấn của sinh viên là bắt buộc. Phương pháp tiếp cận của CVHT là lấy sinh viên làm trung 7 download by : skknchat@gmail.com tâm phát triển. Hầu hết các CVHT ở Mỹ sẽ làm việc với sinh viên để giúp họ vạch rõ và thực hiện để đạt được kế hoạch học tập của họ.
Đây là một hình thức chuyển đổi từ chỗ là người quản lý đơn thuần đến vai trò là một phần trong quá trình học tập của sinh viên. Hình thức tổ chức kết hợp giữa các chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp và các CVHT thuộc các khoa. Việc kêt hợp này tạo nên sự cân bằng giữa các kiến thức chung và các kỹ năng nâng cao của chuyên viên tư vấn với những hiểu biết về phương pháp học tập (discipline- based knowledge) và các kỹ năng tư vấn phong phú của CVHT. Một đặc điểm của hệ thống CVHT ở Hoa Kỳ là họ cung cấp cả các dịch vụ hỗ trợ tư vấn chuyên sâu, thường là thông qua một trung tâm tư vấn tập trung.
Các đối tượng làm việc của họ là các nhóm SV có nguy cơ cao và các SV này được chỉ định phải tham gia bắt buộc một cách nghiêm túc. Việc xác định nhóm SV nào là có nguy cơ còn tùy thuộc vào từng trường ĐH. Tuy nhiên, các nhóm có thế là: SV năm thứ nhất, SV chuyển đổi liên thông, các SV không chính thức (undecided or undeclared student), SV chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng (under- prepared student), SV chịu các hình thức quàn chế, SV thuộc nhóm dân tộc thiểu số, SV là vận động viên. Các tài liệu nghiên cứu vê CVHT ớ châu Á mà chúng tôi thu nhận được là khá ít ỏi so với những nghiên cứu ở Hoa Kỳ và chúng không cho thấy rõ các xu hướng nghiên cứu về CVHT ở các nước này.
Dựa trên những số liệu có được về hoạt động của CVHT của các nước ở châu Á, chúng tôi giới thiệu hoạt động CVHT tại các trường ĐH ở một số nước như: Nhật Bản, CVHT của trường ĐH, chủ yếu là CVHT cho sinh viên quốc tế là người quyết định tất cả các nội dung trợ giúp và chịu trách nhiệm tuyển chọn các trợ giáo (tutor) - Đó là những sinh viên, học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh trong trường. Những trợ giáo này có nhiệm vụ giúp đỡ sinh viên quốc tế làm quen với môi trường học mới, trợ giúp ngôn ngữ, các vấn đề trong học tập cũng như những khó khăn gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. 8 download by : skknchat@gmail.com Tại Hàn Quốc, theo Kim, B & Yang (2009) một số trường như trường ĐH Mở Quốc gia Hàn Quốc cung cấp dịch vụ tư vấn học tập online cho sinh viên song song với các văn phòng tư vấn trong trường, nơi sính viên khi có nhu cầu tư vấn thì sẽ được trợ giúp bởi các chuyên gia tư vấn. Ngoài ra, hệ thống hỗ trợ sinh viên còn được thông qua các trợ giáo và hệ thống CVHT cũng được vận hành nhằm giúp đờ sinh viên trong học tập và giảm tỷ lệ bỏ học ờ SV.
Còn ờ Thái Lan, để cải thiện và hỗ trợ các quá trình quàn lý học thuật, nhiều trường học ờ Thái Lan đã phát triển hệ thống thông tin và dịch vụ mang tính đột phá nham thúc đây hiệu quả và moi quan hệ với sinh viên. Một trong nhừng sáng kiên nàv là Hệ thông Gợi ý Sinh viên (Student Recommendation Systein) - SRM. Trong khi ở Singapore, công việc CVHT cho sinh viên là một nhiệm vụ nặng nề cho những kết quả thực tiễn tức thời. Vì vậy, việc hướng dẫn cho sinh viên lựa chọn và lên kế hoạch học tập của mình làm sao để phát huy tối đa nội lực của họ đòi hòi tính chuyên môn cao của người cổ vấn.
Khi mà các chưomg trình học tập được đưa ra ngày càng trở nên phức tạp vả chi phí thời gian các cán bộ trong trường cao thì việc trợ giúp học tập cho sinh viên càng cần phải trở thành một hệ thống chuyên nghiệp. Trường ĐH quốc gia Singapore đã phát triển một hệ thống cố vấn thông minh gọi là PACE - viết tắt của cổ vấn lập kế hoạch khóa học và đăng ký môn học.