LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Là một trong những mắt xích không thể thiếu trong quá trình phân phối hàng hóa, logistics đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc gia nói chung và ngành thủy sản nói riêng. Logistics là chuỗi các hoạt động nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất không bị gián đoạn và đảm bảo quá trình lưu thông hàng hóa từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Sự phát triển logistics mang ý nghĩa đảm bảo về thời gian và chất lượng công việc trong vận hành sản xuất và kinh doanh, là yếu tố then chốt thúc đẩy tăng trưởng ngành thủy sản tại Việt Nam.
Sự hình thành và phát triển của logistics phục vụ cho ngành thủy sản thường gắn liền với những yêu cầu của ngành thủy sản và phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế của các địa phương, từng vùng miền. Đồng thời, hoạt động logistics có tác động trở lại và thúc đẩy sự phát triển của ngành thủy sản. Có thể thấy, ngành thủy sản với đặc thù sản phẩm hầu hết là tươi sống nên yêu cầu về logistics trong ngành này càng khắt khe và đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao, nhất là khâu bảo quản. Kho lạnh bảo quản là một trong những mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng và đóng vai trò đặc biệt vào khả năng đảm bảo chất lượng của sản phẩm, nhất là trong khu vực sản xuất xuất khẩu sang các thị trường khó tính với những yêu cầu tiêu chuẩn cao.
Do đó, sự phát triển logistics có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc vận hành sản xuất và kinh doanh mặt hàng thủy sản, nhằm đảm bảo về mặt thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao giá trị thủy sản, là chìa khóa để hoạt động xuất khẩu được thúc đẩy và phát triển mạnh mẽ. Với lợi thế đường bờ biển dài 3.260 km, Việt Nam luôn coi lĩnh vực thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia và ưu tiên đầu tư phát triển. Trong năm 2020, ngành thủy sản đóng góp khoảng 3,4% GDP toàn quốc và 24,4% GDP ngành nông nghiệp (Tổng cục Thống kê, 2020).
Không chỉ vậy, trong quá trình hội nhập toàn cầu, Việt Nam đã chủ động đàm phán ký kết thỏa thuận với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới cũng như tích cực tham gia các FTA thế hệ mới. 2 Điều này mang lại nhiều cơ hội cho các ngành xuất khẩu như ngành thủy sản, đặc biệt là những cơ hội từ thuế quan xuất nhập khẩu. Trong đó tiêu biểu phải nhắc tới Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (UKVFTA) đã tạo ra động lực tăng trưởng mới cho ngành thủy sản Việt Nam với những thuận lợi về thương mại, ưu đãi thuế quan thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường Anh và châu Âu giàu tiềm năng. Ngoài ra, các FTA thế hệ mới sẽ đem đến cơ hội mở rộng nguồn cung hàng hóa, mở rộng hợp tác đầu tư và chuyển giao công nghệ.
Như vậy, có thể nói, ngành thủy sản Việt Nam đang trong giai đoạn vàng để tăng trưởng, cần tận dụng cơ hội để bứt phá vượt bậc đồng thời khẳng định thương hiệu thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Để tận dụng những cơ hội to lớn từ các FTA đem lại, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản và đảm bảo chuỗi cung ứng sản phẩm thông suốt, logistics trong ngành thủy sản đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Tiềm năng xuất khẩu và lợi thế tăng trưởng ngành thủy sản tạo cơ hội và nhu cầu cấp thiết đối với sự phát triển logistics. Tuy nhiên, trên thực tế, logistics thủy sản vẫn còn phát triển chưa tương xứng với nhu cầu và yêu cầu ngành.
Đặc biệt, tại các vựa thủy sản trọng điểm ở nước ta như đồng bằng sông Cửu Long, dịch vụ logistics còn nhiều hạn chế như thiếu hệ thống kho bãi, số lượng kho lạnh không đủ đáp ứng nhu cầu bảo quản hay các trung tâm logistics phân bố manh mún và thiếu tính kết nối. Bên cạnh đó, chi phí logistics vẫn luôn là vấn đề thách thức đối với các doanh nghiệp thủy sản. Theo Báo cáo logistics Việt Nam năm 2021, chi phí logistics tại Việt Nam tương đương 20,8% GDP, cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực, điều này làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá cho các mặt hàng thủy sản và là rào cản nếu doanh nghiệp thủy sản Việt Nam muốn đạt tăng trưởng bứt phá. Như vậy, bài toán phát triển logistics trong ngành thủy sản vẫn còn nhiều ẩn số, không chỉ các doanh nghiệp mà cả cơ quan quản lý nhà nước cần quan tâm.
Trước nhiều cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi phải nhận thức rõ vấn đề phát triển logistics trong ngành thủy sản cả về lý luận và thực tiễn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu và lý thuyết liên quan đến sự phát triển logistics ngành thủy sản cả trong và ngoài nước. Thế nhưng, với thực tế hiện nay ở Việt Nam, mới chỉ có rất ít đề tài nghiên cứu sâu về vấn đề này. Cụ thể, về mặt lý luận, cần chỉ rõ những tiêu chí 3 đánh giá phát triển logistics trong ngành thủy; thực trạng phát triển logistics đối với ngành thủy sản tại Việt Nam; các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển logistics; và các giải pháp phát triển logistics trong ngành thủy sản của Việt Nam.
Từ những luận điểm nêu trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Phát triển logistics trong ngành thủy sản của Việt Nam” cho luận án của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của luận án Trên thế giới và tại Việt Nam ghi nhận nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến logistics và ngành thủy sản, tuy nhiên những công trình kết hợp được cả hai mảng nội dung này trong cùng một đề tài và đi sâu nghiên cứu về vấn đề “Phát triển logistics trong ngành thủy sản” thì chưa được phổ biến. Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình từ đánh giá tìm hiểu của nghiên cứu sinh: 2. Các nghiên cứu về phát triển logistics 2.
Tiếp cận dưới giác độ vĩ mô 2. Các nghiên cứu nước ngoài Trước hết, dưới giác độ vĩ mô - logistics trong nền kinh tế của một quốc gia và trong nền kinh tế toàn cầu, những năm gần đây trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu đi vào phân tích, làm rõ khái niệm, nội dung và đặc trưng của logistics như được đề cập bởi Douglas M. Stock và Lisa M. Đối với nghiên cứu sự phát triển logistics trên góc độ vĩ mô nền kinh tế, Worldbank đã công bố Chỉ số Hiệu quả Logistics (Logistics Performance Index - LPI) – một chỉ số đo lường để xếp hạng hiệu quả, năng lực hoạt động logistics của các quốc gia.
Trong đó, Chỉ số LPI quốc tế được xây dựng và xếp hạng dựa trên 6 tiêu chí bao gồm: hạ tầng, thông quan, năng lực, giao hàng, truy xuất và thời gian. Cho đến nay đã có 6 lần xếp hạng LPI trong các năm 2007, 2010, 2012, 2014, 2016 và 2018. Chỉ số LPI được tiến hành điều tra ở 160 quốc gia trên thế giới và được đông đảo các nước thừa nhận như một chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của ngành dịch vụ logistics của một nước, một khu vực, một nhóm quốc gia. Từ đó, cho phép các chính phủ, các doanh nghiệp và các bên liên quan có thể sử dụng chỉ số LPI để đánh giá lợi thế cạnh tranh tạo ra từ hoạt động logistics và có biện pháp cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động logistics của mình.
4 Trong một nghiên cứu quy mô lớn về phát triển hành lang kinh tế Bắc – Nam vào năm 2007, Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Bank – ADB) cũng cho rằng kết quả hoạt động của hệ thống logistics được đo lường bởi 4 tiêu chí cơ bản gồm có: sự hiệu quả về chi phí, mức độ thuận tiện, mức độ tin cậy và mức độ an toàn. Dựa vào các tiêu chí này, không chỉ đánh giá mức độ hội nhập logistics của một nền kinh tế mà còn thể hiện năng lực cung ứng dịch vụ logistics trong khuôn khổ hệ thống. Quan điểm này cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm và ủng hộ đến từ cộng đồng nhà nghiên cứu khi tiếp cận hệ thống logistics quốc gia. Bên cạnh đó, Pavel Dimitrov (2002) đề cập những thay đổi dài hạn trong cấu trúc hệ thống logistics, thực trạng và chiến lược phát triển logistics ở cấp độ vĩ mô đã được nghiên cứu tại 12 quốc gia bao gồm các quốc gia ở phương Tây và phương Đông.
Trong đó tập trung vào 3 vấn đề chính là so sánh cấu trúc, chiến lược logistics giữa các quốc gia ở cả hai khu vực; tái cấu trúc hệ thống logistics của các nước phương Đông trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và xác định các tác động không mong muốn của sự phát triển logistics. Nhờ đó, nghiên cứu đã nhận được sự quan tâm rộng rãi từ các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp cho đến cộng đồng nhà nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu. Đối với nghiên cứu liên quan đến phát triển logistics tại Việt Nam, Viện nghiên cứu Namura Nhật Bản (2002) đã phân tích thực trạng phát triển logistics Việt Nam và đồng thời dựa trên sự khác biệt cơ bản về trình độ phát triển, mức độ mở cửa và thành phần thương mại của các nước Đông Á để làm nổi bật những lợi ích từ việc cải thiện dịch vụ logistics cho Việt Nam. Có thể nói, bài nghiên cứu trình bày một cái nhìn tổng thể về các vấn đề logistics tại Việt Nam, trong đó tập trung vài khía cạnh logistics và chi phí logistics của sản xuất và xuất khẩu một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực và tác động đến xóa đói giảm nghèo.
Bài viết đã chỉ ra các nhà cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu cơ bản của thị trường logistics. Mặc dù giá cả dịch vụ logistics thấp là một lợi thế của Việt Nam nhưng chất lượng dịch vụ chưa đảm bảo, sự kém phát triển của các công ty giao nhận địa phương chính là những khó khăn lớn cho thị trường logistics trong nước. Các nghiên cứu trong nước Thuật ngữ logistics xuất hiện một cách chính thức trong các văn bản pháp luật Việt Nam ở Luật Thương Mại (2005), muộn hơn rất nhiều so với tiến trình phát triển của ngành này trên thế giới.