Chương 1: Cơ sở lý luận về làng nghề và phát triển làng nghề Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề ở Từ Sơn Chương 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn Từ Sơn đến năm 2015 tầm nhìn 2020. 14 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Nghề và làng nghề truyền thống đã góp phần tạo dựng bản sắc văn hoá cho dân tộc Việt Nam, đóng góp vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, nhất là đối với các vùng nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, làng nghề truyền thống là đặc điểm góp phần vào sự phân công lao động trong nền kinh tế nông nghiệp truyền thống Việt Nam thành ba ngành công - nông – thƣơng nghiệp. Cơ cấu kinh tế này đã thực sự tạo cho làng xã Việt Nam có thể ổn định lâu dài, vững chắc.
Một số khái niệm và cách phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Nghề truyền thống Nghề truyền thống ở nƣớc ta rất phong phú, đa dạng, đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm, tạo ra nhiều sản phẩm nổi tiếng trong nƣớc và thế giới nhƣ gốm Bát Tràng, nghề chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình), nghề dệt tơ lụa Hà Đông. Nghề truyền thống là những nghề thủ công đƣợc hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài, tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm, đƣợc sản xuất tập trung, thu hút đƣợc nhiều lao động tham gia sản xuất và dần hình thành các làng nghề, phố nghề, xã nghề.
Đặc trƣng cơ bản gắn với kỹ thuật và công nghệ truyền thống, sản phẩm có tính đơn chiếc, tính thẩm mỹ cao và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Điều đặc biệt là linh hồn của nghề, của làng nghề nằm trong yếu tố con ngƣời, đó là những nghệ nhân và đội ngũ lao động lành nghề. Khi nền đại công nghiệp phát triển thì việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào trong sản xuất đã dần thay thế sức lao động trong một số công đoạn nhất định, điều đó phá vỡ tính truyền thống cố hữu trong sản xuất nghề truyền thống, do đó quan điểm ban đầu cũng có những thay đổi nhất định. Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã khiến cho việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống đƣợc hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên liệu mới.
Do vậy khái niệm nghề truyền thống đã đƣợc nghiên cứu và mở rộng hơn và có thể hiểu nhƣ sau: “Nghề 15 truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc” * Phân loại nghề truyền thống + Phân biệt theo trình độ kỹ thuật - Loại nghề có kỹ thuật giản đơn: đan lát, chế biến lƣơng thực, thực phẩm, làm gạch, nung vôi. Sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng, rất phù hợp với một nền kinh tế tự cấp, tự túc. - Loại nghề có kỹ thuật phức tạp: kim hoàn, đúc đồng, làm gốm, khảm gỗ, dệt lụa. Các nghề này không chỉ có kỹ thuật, công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi ở ngƣời thợ sự sáng tạo và khéo léo.
+ Phân loại theo tính chất kinh tế: - Loại nghề phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, sản phẩm ít mang tính chất hàng hóa, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ nhƣ sản xuất nông cụ nhƣ cày, bừa, liềm, hái. - Loại nghề mà hoạt động độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp, sản phẩm của nó thể hiện một trình độ nhất định của sự tách biệt thủ công nghiệp với nông nghiệp, của tài năng sáng tạo và khéo léo của ngƣời thợ, tiêu biểu là các sản phẩm nghề dệt, gốm, kim hoàn. Làng nghề Cho đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm làng nghề, theo giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng thì: Làng nghề (nhƣ làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hƣơng Canh. làng giấy vùng Bƣởi, Dƣơng Ổ.
làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội .) là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phƣờng, có ông trùm, ông phó cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định sống chủ yếu bằng nghề đó 16 và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trƣờng là vùng xung quanh và tiến tới mở rộng ra cả nƣớc rồi có thể xuất khẩu ra nƣớc ngoài. Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu “dân biết mặt, nƣớc biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tục ngữ” trở thành văn hóa dân gian. Làng nghề là một phƣơng diện mà rất nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và đã có nhiều quan điểm về làng nghề đƣợc xây dựng trên những tiêu chí khác nhau, tuy nhiên cho đến nay chƣa có một định nghĩa chính thức, làm quy chuẩn về làng nghề.
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nƣớc ta đƣợc hình thành và phát triển do nhu cầu phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam với những đặc trƣng của nền văn hóa lúa nƣớc và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc. Xét về mặt định lƣợng, làng nghề là những làng mà ở đó số ngƣời chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng. Tiêu chí phân định cụ thể nhƣ sau: Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công từ 40 – 50%; Thu nhập từ nghề thủ công chiếm 50% tổng thu nhập của các hộ; giá trị sản lƣợng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lƣợng của địa phƣơng. Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ là một thƣớc đo định lƣợng, bởi vì đối với mỗi làng nghề khác nhau thì tỷ lệ nói trên là cũng khác nhau.
Điều đó thể hiện rõ ở quy mô sản xuất, tính chất của sản phẩm và số lƣợng ngƣời tham gia giữa làng nghề phát triển và làng nghề chậm phát triển. Trong thời kỳ CNH – HĐH hiện nay, việc phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ vào trong sản xuất đã phá vỡ tính thủ công truyền thống nhất thể trong sản xuất, thay vào đó là hình thức sản xuất bán cơ khí phổ biến. Chính vì vậy khái niệm về làng nghề đƣợc mở rộng hơn, không còn bó hẹp ở những làng chỉ có những ngƣời chuyên làm các nghề thủ công nghiệp. Nó đƣợc nhìn nhận dƣới hai giác độ: 17 Những làng nghề đã áp dụng công nghệ cơ khí, bán cơ khí vào trong sản xuất và những làng nghề phát triển sản xuất ở mức độ cao đã kéo theo nhiều nghề dịch vụ ăn theo nhằm phục vụ nó nhƣ nghề cung ứng vật tƣ… Theo tác giả Bùi Văn Vƣợng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền thủ công, ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công.
Ngƣời thợ thủ công nhiều trƣờng hợp cũng đồng thời là ngƣời làm nghề nông nhƣng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những ngƣời thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình .” Làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam. Vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung sau: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế-xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa”. Làng nghề truyền thống Trong làng nghề truyền thống thƣờng có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp truyền nghề. Song sự truyền nghề này luôn có sự tiếp thu những cải tiến, sáng tạo làm cho sản phẩm của mình có những nét độc đáo riêng so với sản phẩm của ngƣời khác, làng khác.
Qua khái niệm nghề truyền thống và làng nghề đƣợc trình bày ở trên thì làng nghề truyền thống trƣớc hết là làng nghề đƣợc tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ƣớc chế xã hội và gia tộc. Phân loại làng nghề 1. Đối với làng nghề Làng nghề đƣợc phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, do đó có nhiều hình thức làng nghề khác nhau.
Tuy nhiên, các cách phân chia chỉ mang tính tƣơng đối vì ẩn hiện trong ngành nghề này, làng nghề này lại thấy sự liên kết với các ngành nghề, làng nghề khác. Chúng tôi xin đề xuất một số cách phân loại sau: Phân loại theo số lƣợng nghề, gồm có: - Làng một nghề: là những làng ngoài nghề nông ra chỉ còn một nghề thủ công duy nhất chiếm ƣu thế tuyệt đối. - Làng nhiều nghề: là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số nghề thủ công nghiệp. Phân loại theo thời gian, gồm có: - Làng nghề truyền thống: là những làng xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm.
- Làng nghề mới: là những làng nghề phát triển do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng.