Luận văn thạc sĩ: Phát triển các làng nghề ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Luận văn thạc sĩ về phát triển làng nghề truyền thống tại Từ Sơn, Bắc Ninh. Nghiên cứu giải pháp, chính sách thúc đẩy kinh tế địa phương bền vững.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn phát triển làng nghề Từ Sơn Bắc Ninh

Luận văn "Phát triển các làng nghề ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh" của tác giả Trịnh Thị Thu Phương là một công trình nghiên cứu khoa học, chi tiết về cơ sở lý luận và thực tiễn của các làng nghề. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Các làng nghề truyền thống Bắc Ninh không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa mà còn là không gian lưu giữ giá trị văn hóa làng nghề đặc sắc. Sự phát triển của các làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Luận văn đã hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi như nghề truyền thống, làng nghề và các điều kiện hình thành, nhân tố ảnh hưởng. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phát triển bền vững làng nghề là một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Việc khôi phục và phát triển các làng nghề được xem là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn, đặc biệt tại một địa phương có bề dày lịch sử như thị xã Từ Sơn. Nội dung luận văn cung cấp một cái nhìn toàn diện, từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại Việt Nam, làm nền tảng vững chắc cho việc phân tích sâu hơn về các làng nghề tại Từ Sơn.

1.1. Vai trò của các làng nghề truyền thống Bắc Ninh

Các làng nghề truyền thống Bắc Ninh đóng một vai trò đa diện trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Về kinh tế, chúng góp phần đáng kể vào việc tăng giá trị sản xuất công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Các làng nghề tạo ra hàng triệu việc làm, thu hút lượng lớn lao động nhàn rỗi tại nông thôn, hạn chế di dân tự do ra các thành phố lớn. Về xã hội, phát triển làng nghề giúp nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, đồng thời thúc đẩy quá trình đô thị hóa tại chỗ theo phương châm "ly nông bất ly hương". Các hoạt động sản xuất kinh doanh sôi động cũng kéo theo sự phát triển của các dịch vụ phụ trợ, góp phần đa dạng hóa kinh tế làng nghề.

1.2. Giá trị văn hóa làng nghề và tiềm năng phát triển

Mỗi sản phẩm từ làng nghề là một di sản, kết tinh từ sự sáng tạo và kỹ năng được truyền qua nhiều thế hệ. Các giá trị văn hóa làng nghề không chỉ thể hiện qua những hoa văn, kiểu dáng độc đáo trên sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mà còn qua các quy ước, lễ hội và tín ngưỡng thờ tổ nghề. Đây là một nguồn tài nguyên vô giá để phát triển du lịch làng nghề, thu hút du khách trong và ngoài nước. Việc bảo tồn làng nghề không chỉ là giữ gìn một phương thức sản xuất mà còn là bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Khai thác hiệu quả tiềm năng này sẽ tạo ra một hướng đi bền vững, kết hợp giữa kinh tế và văn hóa, mang lại lợi ích kép cho cộng đồng.

II. Phân tích thực trạng làng nghề Từ Sơn và các thách thức

Luận văn đã đi sâu phân tích thực trạng làng nghề Từ Sơn giai đoạn 2009-2013, một thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức. Từ Sơn có nhiều làng nghề nổi tiếng như làng nghề Đồng Kỵ chuyên về đồ gỗ mỹ nghệ và làng nghề sắt Đa Hội (Châu Khê) chuyên sản xuất sắt thép. Sự phát triển này đã đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp của thị xã, với tỷ trọng GTSX làng nghề chiếm một phần quan trọng (Bảng 2.7). Số lượng lao động tham gia vào các làng nghề cũng tăng đều qua các năm, cho thấy sức hút và vai trò giải quyết việc làm to lớn. Tuy nhiên, sự phát triển nóng và tự phát đã dẫn đến nhiều hệ lụy. Vấn đề quy hoạch thiếu đồng bộ, hạ tầng kỹ thuật quá tải và đặc biệt là ô nhiễm môi trường làng nghề đã trở thành bài toán nan giải. Công nghệ sản xuất tại nhiều cơ sở còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào lao động thủ công, dẫn đến năng suất chưa cao và chất lượng sản phẩm không đồng đều. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, trong khi việc xây dựng thương hiệu sản phẩm vẫn còn nhiều hạn chế, khiến các làng nghề đối mặt với nguy cơ mai một nếu không có những thay đổi kịp thời.

2.1. Thực trạng phát triển làng nghề Đồng Kỵ và Đa Hội

Hai làng nghề tiêu biểu của Từ Sơn là làng nghề Đồng Kỵlàng nghề sắt Đa Hội đã có những bước phát triển vượt bậc. Làng nghề Đồng Kỵ nổi tiếng với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ bằng gỗ tinh xảo, không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn xuất khẩu đi nhiều quốc gia. Trong khi đó, Đa Hội (Châu Khê) là trung tâm sản xuất sắt thép lớn, cung cấp sản phẩm cho ngành xây dựng và cơ khí trên cả nước. Theo số liệu trong luận văn (Bảng 2.10, 2.11), các cụm công nghiệp làng nghề này tạo ra giá trị sản xuất và thu hút hàng nghìn lao động. Tuy nhiên, cả hai làng nghề đều đang đối mặt với các vấn đề chung như thiếu mặt bằng sản xuất, hạ tầng yếu kém và đặc biệt là ô nhiễm nghiêm trọng.

2.2. Vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề nghiêm trọng

Đây là thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững làng nghề tại Từ Sơn. Hoạt động sản xuất gỗ tại Đồng Kỵ gây ra ô nhiễm bụi, tiếng ồn và chất thải rắn. Tại Đa Hội, quá trình luyện, cán thép thải ra khói bụi chứa kim loại nặng, xỉ than và nước thải chứa axit, hóa chất độc hại. Tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người lao động và cộng đồng dân cư mà còn làm suy thoái tài nguyên đất, nước và không khí. Việc thiếu các hệ thống xử lý chất thải tập trung và ý thức bảo vệ môi trường của một số hộ sản xuất còn hạn chế đã khiến vấn đề ngày càng trở nên cấp bách, đòi hỏi phải có các giải pháp phát triển làng nghề mang tính toàn diện.

III. Giải pháp quy hoạch và chính sách phát triển làng nghề

Để giải quyết các tồn tại, luận văn đề xuất một hệ thống các giải pháp phát triển làng nghề mang tính chiến lược, tập trung vào quy hoạch và vai trò quản lý của nhà nước. Giải pháp trọng tâm là xây dựng quy hoạch tổng thể cho các làng nghề, tách biệt khu sản xuất ra khỏi khu dân cư để giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm. Cần hình thành các cụm công nghiệp làng nghề tập trung có đầy đủ hạ tầng kỹ thuật như hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, giao thông và điện. Bên cạnh đó, vai trò quản lý nhà nước cần được tăng cường thông qua việc ban hành các chính sách hỗ trợ làng nghề cụ thể và hiệu quả. Các chính sách này bao gồm hỗ trợ về vốn vay ưu đãi, miễn giảm thuế, cung cấp thông tin thị trường và hỗ trợ xúc tiến thương mại. Đặc biệt, cần có những quy định chặt chẽ về bảo vệ môi trường và chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm. Việc đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làng nghề cũng là một yếu tố then chốt, giúp người lao động và chủ cơ sở tiếp cận công nghệ mới, nâng cao kỹ năng quản trị và tay nghề, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững làng nghề.

3.1. Giải pháp về quy hoạch và chính sách hỗ trợ làng nghề

Luận văn nhấn mạnh việc quy hoạch không gian làng nghề phải gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của thị xã Từ Sơn. Cần sớm di dời các cơ sở gây ô nhiễm vào các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch. Về chính sách, nhà nước cần tạo một hành lang pháp lý thuận lợi, khuyến khích các hộ sản xuất đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng sản xuất sạch hơn. Các chính sách hỗ trợ làng nghề không nên chỉ dừng lại ở hỗ trợ tài chính mà cần mở rộng sang hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo và kết nối thị trường. Sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp là yếu tố quyết định sự thành công của các giải pháp này.

3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho làng nghề

Chất lượng nguồn nhân lực làng nghề là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh và sự tồn vong của nghề truyền thống. Cần có các chương trình đào tạo nghề bài bản, kết hợp giữa phương pháp truyền nghề của các nghệ nhân và kiến thức hiện đại. Nội dung đào tạo không chỉ tập trung vào kỹ năng tay nghề mà còn bổ sung kiến thức về quản trị kinh doanh, marketing, thiết kế mẫu mã sản phẩm và ngoại ngữ. Việc nâng cao nhận thức về an toàn lao động và bảo vệ môi trường cho người lao động cũng là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần xây dựng một môi trường sản xuất an toàn và bền vững.

IV. Hướng dẫn xây dựng thương hiệu phát triển thị trường

Trong bối cảnh hội nhập, việc xây dựng thương hiệu sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ là giải pháp sống còn cho các làng nghề ở Từ Sơn. Luận văn đề xuất các hướng đi cụ thể nhằm nâng cao giá trị và sức cạnh tranh cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Trước hết, cần tập trung vào việc đăng ký và bảo hộ thương hiệu tập thể cho các làng nghề nổi tiếng như Đồng Kỵ, Đa Hội. Điều này giúp khẳng định nguồn gốc xuất xứ và bảo vệ uy tín sản phẩm trên thị trường. Các cơ sở sản xuất cần chú trọng hơn đến việc cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Giải pháp về khoa học công nghệ cũng được đề cập, khuyến khích ứng dụng máy móc hiện đại vào các khâu sản xuất nặng nhọc, độc hại nhưng vẫn giữ lại những công đoạn thủ công tinh xảo để tạo nên sự khác biệt. Việc đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại như tham gia hội chợ, triển lãm, xây dựng website bán hàng trực tuyến và kết nối với các sàn thương mại điện tử là con đường hiệu quả để đưa sản phẩm đến gần hơn với khách hàng toàn cầu, góp phần thúc đẩy kinh tế làng nghề phát triển.

4.1. Chiến lược xây dựng thương hiệu sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Việc xây dựng thương hiệu sản phẩm không chỉ là thiết kế một logo hay một cái tên, mà là xây dựng cả một câu chuyện văn hóa đằng sau sản phẩm đó. Cần nhấn mạnh vào yếu tố truyền thống, sự khéo léo của người thợ và nét độc đáo trong từng sản phẩm. Mỗi sản phẩm phải được xem là một tác phẩm nghệ thuật, mang đậm giá trị văn hóa làng nghề. Các doanh nghiệp và hộ sản xuất cần đầu tư vào bao bì, nhãn mác chuyên nghiệp và xây dựng các bộ nhận diện thương hiệu nhất quán. Đồng thời, chính quyền địa phương có thể hỗ trợ tổ chức các cuộc thi thiết kế sản phẩm, vinh danh các nghệ nhân để quảng bá và nâng cao giá trị thương hiệu chung.

4.2. Giải pháp về thị trường và ứng dụng khoa học công nghệ

Để mở rộng thị trường, việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu của từng phân khúc khách hàng là vô cùng quan trọng. Bên cạnh thị trường truyền thống, cần hướng đến các thị trường ngách có yêu cầu cao về chất lượng và tính nghệ thuật. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong marketing và bán hàng là xu thế tất yếu. Về công nghệ sản xuất, cần có sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Nhà nước có thể hỗ trợ các làng nghề tiếp cận các công nghệ xử lý môi trường tiên tiến, các máy móc giúp tăng năng suất và giảm thiểu tác động xấu đến sức khỏe người lao động, đảm bảo phát triển bền vững làng nghề.

V. Tương lai làng nghề Từ Sơn và định hướng phát triển mới

Dựa trên những phân tích về thực trạng và tiềm năng, luận văn đã phác thảo định hướng phát triển cho các làng nghề trên địa bàn thị xã Từ Sơn với tầm nhìn đến năm 2020. Mục tiêu chung là phát triển bền vững làng nghề, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn các giá trị văn hóa và bảo vệ môi trường. Định hướng quan trọng là phát triển các làng nghề gắn với du lịch làng nghề. Biến các không gian sản xuất trở thành điểm tham quan, trải nghiệm hấp dẫn, nơi du khách có thể tìm hiểu về lịch sử, quy trình sản xuất và trực tiếp mua sắm các sản phẩm đặc trưng. Điều này không chỉ tạo thêm nguồn thu nhập mà còn là cách quảng bá hiệu quả nhất cho thương hiệu làng nghề. Bên cạnh việc củng cố các làng nghề đã có như làng nghề Đồng Kỵ, làng nghề sắt Đa Hội, cần có định hướng phát triển các làng nghề mới, đa dạng hóa ngành nghề để tránh phụ thuộc vào một vài sản phẩm chủ lực. Quá trình này đòi hỏi một lộ trình cụ thể, với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền, sự năng động của các doanh nghiệp và sự đồng lòng của cả cộng đồng, hướng tới một tương lai mà các làng nghề trở thành những trung tâm kinh tế - văn hóa vững mạnh của địa phương.

5.1. Định hướng bảo tồn làng nghề gắn với du lịch dịch vụ

Việc kết hợp bảo tồn làng nghề và phát triển du lịch là một hướng đi chiến lược. Cần quy hoạch các khu trưng bày sản phẩm, khu trình diễn tay nghề của các nghệ nhân và các tour tham quan trải nghiệm cho du khách. Việc xây dựng các câu chuyện hấp dẫn về lịch sử làng nghề, về các nghệ nhân tài hoa sẽ làm tăng sức hút cho các điểm đến. Phát triển du lịch làng nghề không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm của cộng đồng trong việc gìn giữ di sản văn hóa, tạo động lực cho sự phát triển bền vững.

5.2. Các mục tiêu chủ yếu đến năm 2015 và tầm nhìn 2020

Luận văn đề ra các mục tiêu cụ thể cho giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 (tại thời điểm nghiên cứu), tập trung vào các chỉ số về giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng, thu hút lao động và cải thiện môi trường. Các mục tiêu này là kim chỉ nam cho các hành động của địa phương. Mặc dù bối cảnh hiện tại đã thay đổi, các định hướng chiến lược này vẫn còn nguyên giá trị. Đó là sự nhấn mạnh vào việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, ưu tiên công nghệ sạch, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm và đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động, hướng tới mục tiêu cuối cùng là phát triển bền vững làng nghề.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển các làng nghề ở từ sơn bắc ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về làng nghề và phát triển làng nghề Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề ở Từ Sơn Chương 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn Từ Sơn đến năm 2015 tầm nhìn 2020. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Nghề và làng nghề truyền thống đã góp phần tạo dựng bản sắc văn hoá cho dân tộc Việt Nam, đóng góp vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, nhất là đối với các vùng nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, làng nghề truyền thống là đặc điểm góp phần vào sự phân công lao động trong nền kinh tế nông nghiệp truyền thống Việt Nam thành ba ngành công - nông – thƣơng nghiệp. Cơ cấu kinh tế này đã thực sự tạo cho làng xã Việt Nam có thể ổn định lâu dài, vững chắc.

Một số khái niệm và cách phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Nghề truyền thống Nghề truyền thống ở nƣớc ta rất phong phú, đa dạng, đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm, tạo ra nhiều sản phẩm nổi tiếng trong nƣớc và thế giới nhƣ gốm Bát Tràng, nghề chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình), nghề dệt tơ lụa Hà Đông. Nghề truyền thống là những nghề thủ công đƣợc hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài, tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm, đƣợc sản xuất tập trung, thu hút đƣợc nhiều lao động tham gia sản xuất và dần hình thành các làng nghề, phố nghề, xã nghề.

Đặc trƣng cơ bản gắn với kỹ thuật và công nghệ truyền thống, sản phẩm có tính đơn chiếc, tính thẩm mỹ cao và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Điều đặc biệt là linh hồn của nghề, của làng nghề nằm trong yếu tố con ngƣời, đó là những nghệ nhân và đội ngũ lao động lành nghề. Khi nền đại công nghiệp phát triển thì việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào trong sản xuất đã dần thay thế sức lao động trong một số công đoạn nhất định, điều đó phá vỡ tính truyền thống cố hữu trong sản xuất nghề truyền thống, do đó quan điểm ban đầu cũng có những thay đổi nhất định. Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã khiến cho việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống đƣợc hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên liệu mới.

Do vậy khái niệm nghề truyền thống đã đƣợc nghiên cứu và mở rộng hơn và có thể hiểu nhƣ sau: “Nghề 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc” * Phân loại nghề truyền thống + Phân biệt theo trình độ kỹ thuật - Loại nghề có kỹ thuật giản đơn: đan lát, chế biến lƣơng thực, thực phẩm, làm gạch, nung vôi. Sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng, rất phù hợp với một nền kinh tế tự cấp, tự túc. - Loại nghề có kỹ thuật phức tạp: kim hoàn, đúc đồng, làm gốm, khảm gỗ, dệt lụa. Các nghề này không chỉ có kỹ thuật, công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi ở ngƣời thợ sự sáng tạo và khéo léo.

+ Phân loại theo tính chất kinh tế: - Loại nghề phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, sản phẩm ít mang tính chất hàng hóa, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ nhƣ sản xuất nông cụ nhƣ cày, bừa, liềm, hái. - Loại nghề mà hoạt động độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp, sản phẩm của nó thể hiện một trình độ nhất định của sự tách biệt thủ công nghiệp với nông nghiệp, của tài năng sáng tạo và khéo léo của ngƣời thợ, tiêu biểu là các sản phẩm nghề dệt, gốm, kim hoàn. Làng nghề Cho đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm làng nghề, theo giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng thì: Làng nghề (nhƣ làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hƣơng Canh. làng giấy vùng Bƣởi, Dƣơng Ổ.

làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội .) là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phƣờng, có ông trùm, ông phó cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định sống chủ yếu bằng nghề đó 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trƣờng là vùng xung quanh và tiến tới mở rộng ra cả nƣớc rồi có thể xuất khẩu ra nƣớc ngoài. Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu “dân biết mặt, nƣớc biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tục ngữ” trở thành văn hóa dân gian. Làng nghề là một phƣơng diện mà rất nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và đã có nhiều quan điểm về làng nghề đƣợc xây dựng trên những tiêu chí khác nhau, tuy nhiên cho đến nay chƣa có một định nghĩa chính thức, làm quy chuẩn về làng nghề.

Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nƣớc ta đƣợc hình thành và phát triển do nhu cầu phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam với những đặc trƣng của nền văn hóa lúa nƣớc và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc. Xét về mặt định lƣợng, làng nghề là những làng mà ở đó số ngƣời chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng. Tiêu chí phân định cụ thể nhƣ sau: Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công từ 40 – 50%; Thu nhập từ nghề thủ công chiếm 50% tổng thu nhập của các hộ; giá trị sản lƣợng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lƣợng của địa phƣơng. Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ là một thƣớc đo định lƣợng, bởi vì đối với mỗi làng nghề khác nhau thì tỷ lệ nói trên là cũng khác nhau.

Điều đó thể hiện rõ ở quy mô sản xuất, tính chất của sản phẩm và số lƣợng ngƣời tham gia giữa làng nghề phát triển và làng nghề chậm phát triển. Trong thời kỳ CNH – HĐH hiện nay, việc phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ vào trong sản xuất đã phá vỡ tính thủ công truyền thống nhất thể trong sản xuất, thay vào đó là hình thức sản xuất bán cơ khí phổ biến. Chính vì vậy khái niệm về làng nghề đƣợc mở rộng hơn, không còn bó hẹp ở những làng chỉ có những ngƣời chuyên làm các nghề thủ công nghiệp. Nó đƣợc nhìn nhận dƣới hai giác độ: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những làng nghề đã áp dụng công nghệ cơ khí, bán cơ khí vào trong sản xuất và những làng nghề phát triển sản xuất ở mức độ cao đã kéo theo nhiều nghề dịch vụ ăn theo nhằm phục vụ nó nhƣ nghề cung ứng vật tƣ… Theo tác giả Bùi Văn Vƣợng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền thủ công, ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công.

Ngƣời thợ thủ công nhiều trƣờng hợp cũng đồng thời là ngƣời làm nghề nông nhƣng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những ngƣời thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình .” Làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam. Vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung sau: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế-xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa”. Làng nghề truyền thống Trong làng nghề truyền thống thƣờng có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp truyền nghề. Song sự truyền nghề này luôn có sự tiếp thu những cải tiến, sáng tạo làm cho sản phẩm của mình có những nét độc đáo riêng so với sản phẩm của ngƣời khác, làng khác.

Qua khái niệm nghề truyền thống và làng nghề đƣợc trình bày ở trên thì làng nghề truyền thống trƣớc hết là làng nghề đƣợc tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ƣớc chế xã hội và gia tộc. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân loại làng nghề 1.

Đối với làng nghề Làng nghề đƣợc phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, do đó có nhiều hình thức làng nghề khác nhau. Tuy nhiên, các cách phân chia chỉ mang tính tƣơng đối vì ẩn hiện trong ngành nghề này, làng nghề này lại thấy sự liên kết với các ngành nghề, làng nghề khác. Chúng tôi xin đề xuất một số cách phân loại sau: Phân loại theo số lƣợng nghề, gồm có: - Làng một nghề: là những làng ngoài nghề nông ra chỉ còn một nghề thủ công duy nhất chiếm ƣu thế tuyệt đối. - Làng nhiều nghề: là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số nghề thủ công nghiệp.

Phân loại theo thời gian, gồm có: - Làng nghề truyền thống: là những làng xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ