phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển lâm nghiệp; Chƣơng 2: Thực trạng phát triển lâm nghiệp tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; Chƣơng 3: Giải pháp phát triển lâm nghiệp tại huyện Đại Lộc đến năm 2020. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Nói đến lâm nghiệp trƣớc hết là phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội. Trong Luật bảo vệ và phát triển rừng có ghi “Rừng là tài nguyên quý báu của đất nƣớc, có khả năng tái tạo là bộ phận quan trọng của môi trƣờng sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân với sự sống còn của dân tộc”.
Việt Nam ngay từ đầu dựng nƣớc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 142/SL ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm tra, kiểm soát, lập biên bản, xử lý các hành vi vi phạm Pháp lệnh bảo vệ rừng. có thể nói đó là những nguồn tƣ liệu đầu tiên của pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. Vấn đề về Luan van 4 rừng và phát triển rừng cũng đƣợc đề cập, nghiên cứu và phân tích trong một số bài viết, tác phẩm nhƣ sau: Trong giáo trình “Kinh tế lâm nghiệp” của Nguyễn Nghĩa Biên đã đƣa ra khái niệm của lâm nghiệp là: “Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân, có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và phát huy chức năng phòng hộ của rừng”. Trong tác phầm “Giảm nghèo và rừng ở Việt Nam” (2005) của William D.
Sunderlin và Huỳnh Thu Ba tập trung vào phần tích các tài liệu về rừng và giảm nghèo ở Việt Nam. Mối quan hệ giữa rừng và nghèo đƣợc phân tích qua 6 biến số: thay đổi từ đất rừng sang đất nông nghiệp, gỗ, lâm sản ngoài gỗ, chi trả các dịch vụ môi trƣờng, việc làm và các lợi ích gián tiếp. Nghiên cứu cũng cho rằng: “Tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng đối với hàng triệu người Việt Nam trong việc trợ giúp cho quá trình giảm nghèo”. Tôi đồng ý với quan điểm mà tác phẩm đã đƣa ra, thực tế cho thấy việc khoán bảo vệ rừng đối với các rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đã góp phần giảm nghèo nhờ có chi phí quản lý bảo vệ rừng.
Nhƣng nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu và phân tích dựa trên những tác phẩm hoặc báo cáo đã nghiên cứu trƣớc đó. Vì vậy, cần có những nghiên cứu mới dựa trên tình hình khảo sát thực tế để bổ sung cho tác phẩm đã đề cập ở trên. Trong tác phẩm “Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn ở Việt Nam” (2005) của Đinh Đức Thuận và nhóm nghiên cứu trƣờng Đại Học Lâm nghiệp thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: “Có sự khác nhau về cơ cấu thu nhập từ lâm nghiệp giữa các vùng. Tại Bắc Kạn, thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm họ trung bình đạt 32,8%, nhóm hộ khá đạt 16,8%, nhóm hộ nghèo chỉ đạt 4,4%.
Trong khi đó ở khu vực Tây Nguyên, thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm hộ khá đạt gần 40%, nhóm hộ nghèo đạt ở Luan van 5 mức 17%. Ba mục tiêu giảm nghèo và cải thiện sinh kế nông thôn dựa vào rừng là: tăng thu nhập qua đa dạng hóa các nguồn thu từ rừng, tạo cơ hội việc làm từ phát triển lâm nghiệp, cải thiện sinh kế dựa vào phát triển lâm nghiệp được thẩm định là thực tế và có tính khả thi”. Nguyễn Thế Tràm trong một bài viết của Tạp chí cộng sản ngày 24/7/2013 đã kết luận rằng: “Độ che phủ của từng Tây Nguyên có xu thế giảm dần, chỉ còn ở mức bình quân 36% năm 2012. Tình trạng diện tích rừng bị mất xảy ra ngày càng nhiều, bình quân 25.
Rừng trồng mới và rừng tái sinh tự nhiên không thể bù đắp được diện tích rừng đã mất. Do đó, tăng cường quản lý, bảo vệ rừng là vấn đề cấp thiết”. Trong luận án: Nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học: Nhƣng vấn đề liên quan đến quản lý tổng hợp ở một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây Nguyên (2008) của Cao Thị Lý cho rằng giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên rừng tại Vƣờn Quốc Gia cần chú trọng: “Tập trung cải tiến sản xuất nông nghiệp, quản lý tài nguyên rừng bảo tồn dựa vào cộng đồng và tiếp cận bảo tồn có sự tham gia. Cải tiến và phát triển thể chế, chính sách hỗ trợ bảo tồn tổng hợp, xây dựng chiến lược nguồn nhân lực cho bảo tồn gắn với phát triển vùng đệm”.
Nguyễn Trần Trọng về “Phát triển Lâm nghiệp Tây Nguyên”, Tạp chí cộng sản số 7 (199) năm 2010 đã khái quát đánh giá đƣợc thực trạng ngành lâm nghiệp ở Tây Nguyên, chỉ ra những tồn tại hạn chế và nguyên nhân từ đó đề ra các giải pháp thiết thực tại Tây Nguyên. Lê Trọng Hùng nghiên cứu sự vận động của đất rừng sản xuất sau khi giao cho các hộ giai định tại một số tỉnh, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 7, tháng 7 năm 2007, thể hiện 3 vấn đề: Thứ nhất, khi nhận thức của ngƣời dân về sản xuất lâm nghiệp thay đổi, các Luan van 6 hộ gia đình phỏng vấn đều mong muốn có thêm đất để sản xuất rừng. Thứ hai, nhóm hộ có quyền sử dụng đất lâm nghiệp có thu nhập tăng. Thứ ba, nhóm hộ khá và trung bình cơ bản là mua, thuê thêm quyền đất rừng sản xuất và liên doanh, còn các hộ nghèo thì bán hoặc cho thuê.
Nhƣ vậy, các hộ khá giả có thêm đất và các hộ nghèo thì giảm diện tích, tình trạng ngƣời nghèo không có đất sẽ gia tăng. Trong nghiên cứu về “Công nghệ bảo quản, chế biến gỗ rừng trồng” (2005) của Lê Văn Lâm và Nguyễn Thị Ngọc Bích, công trình đã xây dựng thành công đƣợc công nghệ xử lý đối với mọi loại gỗ nhằm hạn chế tối đa các khuyết tật xuất hiện trong quá trình chế biến nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng gỗ. Nghiên cứu cũng chỉ ra đƣợc công nghệ xử lý bảo quản thanh phôi cho 3 loại gỗ và lồng ghép vào quy trình công nghệ sản xuất ván ghép thanh để tạo ra chế phẩm có chất lƣợng tốt làm nguyên liệu cho sản xuất đồ mộc văn phòng. Kết hợp giữa gỗ xẻ và ván ghép thanh, thiết kế đề xuất một số mẫu sản phẩm mộc văn phòng.
Từ thập kỷ 90, sau khi hợp nhất các bộ Lâm nghiệp, Nông nghiệp, Thủy lợi, ngành Lâm nghiệp thƣờng sử dụng hệ thống 07 vùng sinh thái nông nghiệp với các tiêu chí xác định về địa hình, khí hậu, đất đai, kiể rừng. Tuy nhiên, một số tiêu chí dùng để phân vùng sinh thái nông nghiệp khác với các hệ sinh thái rừng. Do đó, để xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất tiêu chí phân vùng sinh thái lâm nghiệp ở Việt Nam. Viện nghiên cứu sinh thái và môi trƣờng rừng (RCFEE) đã đƣa ra “Báo cáo phân vùng sinh thái lâm nghiệp ở Việt Nam” để có đƣợc sự đồng nhất tƣơng đối về các hệ sinh thái rừng cho từng vùng.
Cụ thể, RCFRR đã đƣa ra 08 hệ sinh thái rừng tự nhiên điển hình đó là: Hệ sinh thái rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới; Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới; Hệ sinh thái rừng lá rộng thƣờng xanh trên núi đá vôi; Hệ sinh Luan van 7 thái rừng lá kim tự nhiên; Hệ sinh thái rừng thƣa cây họ dầu; Hệ sinh thái rừng ngập mặn; Hệ sinh thái rừng tràm; Hệ sinh thái rừng tre nứa. Quyết định của UBND tỉnh Quảng Nam về chƣơng trình phát triển lâm nghiệp tỉnh Quảng Nam, Quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Quảng Nam đến năm 2020. Phát triển lâm nghiệp theo hƣớng hiện đại, trở thành ngành trọng điểm vùng, tạo động lực phát triển của nền kinh tế của từng địa phƣơng. Ƣu tiên phát triển mạnh ngành lâm nghiệp tại các địa phƣơng có thế mạnh để ngành lâm nghiệp trở thành ngành chủ lực, mũi nhọn, nhƣ sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng, điện, chế biến nông, lâm, thủy sản.
Chú trọng phát triển các ngành lâm nghiệp theo hƣớng bền vững, lâm nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, thu hút nhiều lao động. Ngoài những tác phẩm, bài viết đã nêu ở trên, có nhiều bài viết của nhiều tác giả, nhiều tổ chức nghiên cứu khác nhau với nhiều cách tiếp cận vấn đề khác nhau đã nêu lên nhiều vấn đề về lý luận và nội dung cơ bản về phát triển rừng, trả lời cho những câu hỏi về tầm quan trọng của lâm nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng góp phần giải quyết đƣợc những vấn đề thực tiễn trong phát triển rừng tại Việt Nam nói chung và một số vùng, địa phƣơng nói riêng, Tuy nhiên, trên góc độ tổng kết và hệ thống hóa các vấn đề về lý luận và nội dung của phát triển lâm nghiệp tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, hiện nay vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu hoàn chỉnh về vấn đề này, vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu phát triển rừng tại huyện Đại Lộc là một điều tất yếu. Tôi đã chọn lọc và kế thừa những công trình nghiên cứu ở trên và các vấn đề nghiên cứu khác để thực hiện đề tài này. Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP 1.1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm a.
Rừng Rừng và các hoạt động liên quan đến rừng là bộ phận chủ yếu của lâm nghiệp. Do vậy, trƣớc khi nghiên cứu khái niệm về lâm nghiệp, chúng ta cần hiểu rõ các khái niệm về rừng và tài nguyên rừng. Rừng có lịch sử phát triển lâu dài nhƣng những hiểu biết thật sự của con ngƣời về rừng mới chỉ bắt đầu từ thế kỷ XIX. Cùng với sự ra đời của sinh thái học, các khái niệm về rừng và khoa học rừng dần đƣợc sáng tỏ.
Theo quan điểm học thuyết về hệ sinh thái, rừng đƣợc xem là hệ sinh thái điển hình trong sinh quyền. Mặt khác, trên cơ sở học thuyết về rừng của Morodov, Sukasov thì rừng đƣợc coi là một sinh địa quần lạc. Hiểu theo nghĩa rộng, rừng là một bộ phận của tài nguyên thiên nhiên hữu hạn có khả năng tự phụ hồi bao gồm cả rừng và đất rừng.