Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh, thuộc chuyên ngành Lí luận và lịch sử giáo dục, bảo vệ tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Lê và TS Lê Văn Tạc.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ tự kỷ là một dạng khuyết tật do rối loạn hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động não bộ, xuất hiện ở mọi nhóm chủng tộc, màu da, dân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Phòng chống Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) công bố ngày 30/3/2012, tỷ lệ trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ (ASD) là 1/88 trẻ, trong đó tỷ lệ bé trai cao gấp 5 lần bé gái. Tại Hoa Kỳ, số trẻ được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ cao hơn tổng số trẻ mắc bệnh ung thư, tiểu đường và AIDS cộng lại.
Tại Việt Nam, sự gia tăng số lượng trẻ tự kỷ được phát hiện bắt đầu từ những năm 2000, đặt ra yêu cầu cấp thiết về giáo dục hòa nhập ở bậc mầm non. Tuy nhiên, công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ còn mới mẻ; giáo viên mầm non thiếu kiến thức, kỹ năng giao tiếp và cách thức tổ chức hoạt động cho trẻ; nguồn tài liệu tham khảo hạn chế. Đặc biệt, giai đoạn 3 - 4 tuổi là mốc nhận diện quan trọng để nhà giáo dục đưa ra các biện pháp tác động kịp thời nhằm hình thành, phát triển kỹ năng giao tiếp (KNGT), giúp trẻ khắc phục khiếm khuyết để hòa nhập cộng đồng.
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ (TTK), luận án đề xuất các biện pháp tác động sư phạm nhằm góp phần phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi.
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi.
- Giả thuyết khoa học: Kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ còn nhiều hạn chế (tập trung chú ý kém, không biết bắt chước lời nói, không biết luân phiên, nghe hiểu kém, không biết sử dụng ngôn ngữ). Nếu xây dựng được các biện pháp phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ một cách đồng bộ từ gia đình đến nhà trường và xã hội, gắn kết giữa can thiệp và giáo dục, tạo cơ hội cho trẻ hòa nhập cộng đồng, trải nghiệm và luyện tập kỹ năng thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ tự kỷ nói chung và phát triển KNGT cho trẻ nói riêng.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng KNGT của trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi; thực trạng các biện pháp giao tiếp của giáo viên với trẻ tự kỷ trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học ở trường mầm non. Tìm ra những yếu tố ảnh hưởng, làm cơ sở thực tiễn đề xuất biện pháp.
- Đề xuất các biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi và tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả giáo dục của các biện pháp.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về đối tượng: Trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi đang học tại các lớp hòa nhập ở trường mầm non (loại trừ trẻ tự kỷ có đi kèm hội chứng Asperger, rối loạn phân rã, rối loạn phát triển lan tỏa, hội chứng Rett).
- Về không gian địa bàn: Khảo sát và thực nghiệm tại 3 trường mầm non có trẻ tự kỷ học hòa nhập tại Hà Nội, gồm: Trường mầm non Thực hành Hoa Sen (quận Ba Đình), Trường mầm non Yên Hòa (quận Cầu Giấy), và Trường mầm non Justkids (quận Cầu Giấy).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến nhận diện, chẩn đoán, can thiệp và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ:
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Lịch sử phát hiện và nhận diện tự kỷ: Jean Marc Itard (1774 - 1838) mô tả trường hợp cậu bé hoang dã Victor thiếu hụt nhận thức và giao tiếp xã hội. Eugen Bleuler (1919) đưa ra thuật ngữ "Autism" trong tâm thần học người lớn. Leo Kanner (1943) xuất bản công trình "Autism Disturbance of Affective Contact", mô tả các đặc trưng rút lui cảm xúc, hành vi rập khuôn, ngôn ngữ bất thường, khả năng ghi nhớ không gian ở trẻ. Hans Asperger (1944) mô tả nhóm trẻ có ngôn ngữ phát triển nhưng bất thường về ngữ điệu, đại từ nhân xưng và tư duy rườm rà. Michael Rutter (thập niên 1960) chứng minh cách chăm sóc của cha mẹ không phải nguyên nhân gây tự kỷ. Lorna Wing (1978, 1979) qua tác phẩm "Hiện tượng Tự kỷ" và nghiên cứu về nhân vật Juniper đã đề xuất khái niệm Rối loạn phổ tự kỷ (ASD).
- Công cụ sàng lọc, chẩn đoán: Baron-Cohen, Allen và Gilbert (1996) xây dựng Bảng đánh giá tự kỷ ở trẻ nhỏ (CHAT) gồm 9 dấu hiệu. Robins, Fein, Barton & Green (2001) bổ sung 14 câu hỏi thành công cụ M-CHAT dùng sàng lọc trẻ 18 - 24 tháng. Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (1994) chuẩn hóa tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỷ trong Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần DSM-IV.
- Phương pháp can thiệp và dạy học: Ivar Lovaas (1990, Đại học California Los Angeles) phát triển phương pháp Phân tích Hành vi Ứng dụng (ABA). Andrew Bondy và Lori Frost xây dựng Hệ thống giao tiếp trao đổi tranh (PECS) hỗ trợ giao tiếp phi ngôn ngữ. Kak-hai-Nodich (Đức) nghiên cứu các giai đoạn tiếp cận thế giới ngôn ngữ của trẻ. Linda Maget nghiên cứu môi trường tương tác xã hội. Steven Gutstein nghiên cứu phát triển quan hệ xã hội và nhận thức bản thân cho trẻ tự kỷ.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Phát hiện và can thiệp sớm: Nguyễn Văn Thành với cuốn "Trẻ em Tự kỷ phương thức giáo dục"; Vũ Thị Bích Hạnh với cuốn "Trẻ Tự kỷ - phát hiện sớm và can thiệp sớm"; Võ Nguyễn Tinh Vân với các ấn phẩm "Nuôi con bị Tự kỷ", "Để hiểu Tự kỷ", "Tự kỷ và trị liệu"; hoạt động của Câu lạc bộ gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội (thành lập năm 2002); Đỗ Thị Thảo (2004) nghiên cứu kế hoạch hỗ trợ giáo viên và cha mẹ trong can thiệp sớm; Nguyễn Nữ Tâm An (2007) nghiên cứu vận dụng phương pháp TEACCH; Đào Thu Thủy (2008) thiết kế 20 bài tập phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ tự kỷ 24 - 36 tháng; Ngô Xuân Điệp (2009) nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Lý luận về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp: Các công trình tâm lý học, giáo dục học của Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Quang Uẩn; Nguyễn Hoàng Anh nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm; Hoàng Thị Phương (2003) nghiên cứu giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 - 6 tuổi.
| Nhóm nghiên cứu | Tác giả tiêu biểu | Nội dung trọng tâm |
|---|---|---|
| Phát hiện và định danh tự kỷ | J. M. Itard, E. Bleuler, L. Kanner, H. Asperger, L. Wing | Đặt nền móng nhận diện các khiếm khuyết tương tác xã hội và hình thành khái niệm phổ tự kỷ (ASD). |
| Công cụ chẩn đoán, sàng lọc | Baron-Cohen et al. (CHAT), Robins et al. (M-CHAT), APA (DSM-IV) | Xây dựng bảng kiểm sàng lọc hành vi, vận động và tiêu chuẩn chẩn đoán y học. |
| Mô hình can thiệp hành vi & giao tiếp | I. Lovaas (ABA), A. Bondy & L. Frost (PECS), S. Gutstein | Trị liệu hành vi sớm, trao đổi qua tranh ảnh và thiết lập quan hệ xã hội. |
| Can thiệp tự kỷ tại Việt Nam | Nguyễn Văn Thành, Vũ Thị Bích Hạnh, Võ Nguyễn Tinh Vân, Nguyễn Nữ Tâm An, Đào Thu Thủy | Phổ biến kiến thức chăm sóc, can thiệp sớm TEACCH, thiết kế bài tập giao tiếp ban đầu. |
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến chẩn đoán, trị liệu hành vi và can thiệp sớm, song vẫn thiếu vắng những công trình đi sâu xây dựng một hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ nhằm phát triển trực tiếp các kỹ năng giao tiếp nền tảng cho trẻ tự kỷ lứa tuổi 3 - 4 trong bối cảnh lớp học mầm non hòa nhập tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm cốt lõi
Luận án kế thừa và chuẩn hóa các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu:
- Kỹ năng: Dựa trên phân tích hai khuynh hướng (kỹ thuật thao tác của A.V. Petrovsky, A. Krutetski và năng lực hành động của Coluvep, Lê Văn Hồng, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Quang Uẩn), tác giả xác định kỹ năng là khả năng thực hiện thuần thục hành động trên cơ sở kinh nghiệm bản thân thông qua rèn luyện để đạt kết quả mong muốn.
- Giao tiếp: Tiếp cận theo quan điểm hoạt động của A.N. Leontiev, B.F. Lomov, L.S. Vygotsky, A.A. Bodalev, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn; xác định giao tiếp là sự truyền đạt, tiếp nhận, trao đổi thông tin thông qua hiểu và diễn đạt ngôn ngữ bằng lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ nhằm hình thành và phát triển nhân cách.
- Kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ: Tiếp thu quan điểm của R. Dakharov, A. Rakhmatinliga và Vũ Thị Bích Hạnh, tác giả định nghĩa kỹ năng giao tiếp là khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết tổ chức, điều chỉnh quá trình tương tác để đạt mục đích. Đối với trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi, tác giả xác định 5 kỹ năng nền tảng gồm:
- Kỹ năng tập trung chú ý (quan sát, hướng mắt).
- Kỹ năng bắt chước (bắt chước cử chỉ, động tác, lời nói).
- Kỹ năng luân phiên (chờ đợi, thực hiện lần lượt).
- Kỹ năng nghe hiểu ngôn ngữ (hiểu mệnh lệnh, định danh).
- Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ (dùng lời nói, cử chỉ, tranh ảnh để biểu đạt ý muốn).
- Biện pháp phát triển KNGT cho TTK: Dựa trên định nghĩa từ điển của Nguyễn Văn Đàm, đây là cách thức thực hiện các tác động giáo dục giúp trẻ hình thành và rèn luyện 5 kỹ năng giao tiếp nền tảng.
- Giáo dục hòa nhập: Phương thức giáo dục cho trẻ khuyết tật cùng học với trẻ bình thường tại trường phổ thông/mầm non nơi cư trú, có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung, phương pháp theo quan điểm UNESCO.
- Tự kỷ: Tổng hợp định nghĩa của Bernard Rimland (1964), Từ điển Bách khoa Columbia (1996), Hội nghị Toàn quốc về Tự kỷ Hoa Kỳ (1999) và Liên Hợp Quốc (2008), xác định tự kỷ là khuyết tật phát triển suốt đời do rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng não bộ, xuất hiện trong 3 năm đầu đời, đặc trưng bởi sự khiếm khuyết tương tác xã hội và giao tiếp.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa tài liệu khoa học để xây dựng khung khái niệm.
- Phương pháp quan sát: Theo dõi, ghi chép hành vi giao tiếp của trẻ tự kỷ với cô giáo và bạn bè; ghi biên bản, thu âm, ghi hình các hoạt động chăm sóc, giáo dục trong lớp mầm non hòa nhập.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu từ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và phụ huynh trẻ tự kỷ về thực trạng nhận thức, mức độ cần thiết và các biện pháp phát triển KNGT đang được áp dụng.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực y tế, tâm lý học, giáo dục đặc biệt và giáo viên mầm non giàu kinh nghiệm dạy trẻ hòa nhập.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Nghiên cứu sâu trên 05 trường hợp trẻ tự kỷ điển hình (bé Nh.A, bé DA, bé MĐ, bé ĐA, bé DKh) để kiểm nghiệm chi tiết diễn biến phát triển KNGT.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế và tiến hành can thiệp giáo dục thông qua các biện pháp đề xuất trên 05 ca nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý tần số, tính điểm trung bình cộng và kiểm định số liệu định lượng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu khảo sát từ phiếu hỏi và biên bản phỏng vấn giáo viên, phụ huynh tại các trường mầm non trên địa bàn quận Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa (Hà Nội).
- Dữ liệu thực nghiệm lâm sàng từ hồ sơ cá nhân, nhật ký quan sát và bảng kiểm đánh giá KNGT qua các lần đo trên 05 trẻ tự kỷ.
- Hệ thống công cụ chẩn đoán và tiêu chuẩn tham chiếu: Thang đánh giá mức độ tự kỷ ở trẻ em CARS (Phụ lục 1), Sổ tay chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần DSM-IV (Phụ lục 9), Bộ tiêu chí đánh giá KNGT của trẻ tự kỷ (Phụ lục 2), Bảng quan sát trẻ giao tiếp (Phụ lục 6).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về sự hình thành kỹ năng giao tiếp ở trẻ em và đặc điểm suy giảm giao tiếp ở trẻ tự kỷ. Luận án phân tích cấu trúc tâm lý của quá trình giao tiếp, khẳng định giao tiếp là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển tâm lý, trí tuệ và xã hội hóa cá nhân.
Tác giả phân tích chi tiết các đặc điểm suy giảm KNGT ở trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi:
- Trẻ thờ ơ với kích thích âm thanh, lời nói; không thiết lập tiếp xúc mắt (eye contact) hoặc chỉ nhìn thoáng qua rồi quay đi.
- Hạn chế rõ rệt về khả năng chú ý chung (joint attention), hành vi chơi tự phát mang tính rập khuôn, thích chơi một mình với các đồ vật xoay tròn.
- Thiếu hụt nghiêm trọng kỹ năng bắt chước hành vi, cử chỉ và âm thanh của người lớn; không hiểu quy tắc luân phiên trong đối thoại hoặc trò chơi.
- Khó khăn trong việc tiếp nhận ngôn ngữ (nghe hiểu mệnh lệnh) và biểu đạt nhu cầu; một số trẻ không có ngôn ngữ nói, một số trẻ phát âm vô nghĩa, nhại lời (echolalia) mà không gắn với ngữ cảnh.
Từ đó, chương 1 xác định 5 nội dung cốt lõi cần can thiệp cho trẻ 3 - 4 tuổi gồm: rèn luyện kỹ năng quan sát - tập trung chú ý, kỹ năng bắt chước cử chỉ/lời nói, kỹ năng luân phiên lần lượt, kỹ năng nghe hiểu ngôn ngữ và kỹ năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ - phi ngôn ngữ trong giao tiếp.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn và đề xuất biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ
Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng tại các trường mầm non có trẻ học hòa nhập và hệ thống hóa các biện pháp can thiệp.
Thực trạng phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi:
- Kết quả khảo sát nhận thức khẳng định mức độ cần thiết cao của việc can thiệp KNGT trong trường mầm non (Bảng 2.1).
- Thống kê mô tả kết quả đánh giá KNGT của trẻ tự kỷ (Bảng 2.2) cho thấy trẻ gặp khiếm khuyết đồng loạt ở cả 5 nhóm tiêu chí: điểm kỹ năng luân phiên (Bảng 2.5), điểm kỹ năng nghe hiểu ngôn ngữ (Bảng 2.6) và điểm kỹ năng sử dụng ngôn ngữ (Bảng 2.7) đều phân bố tập trung ở mức yếu và kém.
- Đội ngũ giáo viên mầm non còn lúng túng trong phương pháp xử lý hành vi bất thường, thiếu công cụ hỗ trợ trực quan, chưa biết cách tổ chức môi trường hòa nhập để kích thích nhu cầu giao tiếp của trẻ tự kỷ.
Hệ thống biện pháp phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi được đề xuất: Luận án xác định các nguyên tắc xây dựng biện pháp (đảm bảo tính mục đích, tính hệ thống, tính vừa sức, cá biệt hóa, kết hợp giữa can thiệp cá nhân và giáo dục hòa nhập, phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường) và đề xuất các nhóm biện pháp cụ thể:
- Biện pháp rèn luyện kỹ năng tập trung chú ý: Sử dụng đồ dùng trực quan thu hút thị giác, tạo bài tập tiếp xúc mắt, gọi tên trẻ và hướng trẻ nhìn vào mặt người giao tiếp.
- Biện pháp phát triển kỹ năng bắt chước: Dạy trẻ bắt chước các cử chỉ vận động thô, vận động tinh, cơ quan phát âm và bắt chước các âm thanh đơn giản thông qua trò chơi tương tác.
- Biện pháp hình thành kỹ năng luân phiên: Tổ chức các trò chơi chuyền bóng, xếp khối lần lượt, tạo tình huống chờ đến lượt để trẻ học cách kiềm chế và tương tác hai chiều.
- Biện pháp phát triển kỹ năng nghe hiểu ngôn ngữ: Sử dụng câu lệnh ngắn gọn, rõ ràng kết hợp cử chỉ chỉ dẫn, liên kết từ ngữ với đồ vật, hành động cụ thể trong sinh hoạt hàng ngày.
- Biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng ngôn ngữ và phương tiện thay thế: Khuyến khích trẻ sử dụng lời nói diễn đạt nhu cầu, kết hợp hệ thống tranh ảnh (PECS), cử chỉ, điệu bộ để biểu đạt ý muốn khi trẻ chưa có ngôn ngữ nói.
- Biện pháp phối hợp giữa gia đình và giáo viên mầm non: Thiết lập sổ theo dõi, chuyển giao tài liệu hướng dẫn can thiệp tại gia đình (Phụ lục 8), tạo môi trường giao tiếp đồng bộ.
Chương 3: Thực nghiệm biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 – 4 tuổi
Chương 3 trình bày quy trình và kết quả thực nghiệm sư phạm trên 05 trường hợp nghiên cứu điển hình tại các trường mầm non Yên Hòa, Justkids và Hoa Sen.
Danh sách 05 trường hợp nghiên cứu:
- Bé Nh.A (Bảng 3.2, Biểu đồ 3.2, 3.3, 3.4).
- Bé DA (Bảng 3.3, Biểu đồ 3.5, 3.6, 3.7, 3.8).
- Bé MĐ (Bảng 3.4, Biểu đồ 3.9, 3.10, 3.11, 3.12).
- Bé ĐA (Bảng 3.5, Biểu đồ 3.14, 3.15, 3.16).
- Bé DKh (Bảng 3.6, Biểu đồ 3.17, 3.18, 3.19, 3.20).
Quy trình và kết quả thực nghiệm:
- Quá trình thực nghiệm đo đạc đánh giá KNGT qua nhiều lần đo (trước thực nghiệm, các lần đo trung gian trong quá trình can thiệp và sau thực nghiệm) dựa trên 5 tiêu chí: tập trung chú ý, bắt chước, luân phiên, nghe hiểu ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ.
- Kết quả thống kê mô tả cho từng trẻ và tổng hợp 5 ca nghiên cứu (Bảng 3.7, Biểu đồ 3.21, 3.22) phản ánh sự biến chuyển rõ rệt:
| Trường hợp | Tiêu chí có tiến bộ nổi bật | Biểu hiện cụ thể sau can thiệp thực nghiệm |
|---|---|---|
| Bé Nh.A | Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, điểm TB chung | Tăng khả năng tiếp xúc mắt, bắt đầu phát âm từ đơn diễn đạt nhu cầu, điểm TB 5 tiêu chí tăng đều qua các lần đo. |
| Bé DA | Kỹ năng tập trung chú ý, nghe hiểu | Thời gian duy trì chú ý tăng lên, biết quay đầu khi gọi tên và thực hiện mệnh lệnh đơn giản của cô giáo. |
| Bé MĐ | Kỹ năng luân phiên, tương tác nhóm | Giảm hành vi tranh giành đồ chơi, biết chờ đến lượt trong hoạt động chơi nhóm hòa nhập. |
| Bé ĐA | Kỹ năng bắt chước động tác và âm | Bắt chước được các thao tác vận động tinh, cơ quan khẩu hình và nhại lại âm thanh có chủ đích. |
| Bé DKh | Kỹ năng nghe hiểu ngôn ngữ, cử chỉ | Nhận biết đúng các đồ vật quen thuộc theo chỉ dẫn, biết dùng tranh ảnh và chỉ tay để yêu cầu giúp đỡ. |
Phân tích định tính và định lượng trong chương 3 cho thấy điểm trung bình cộng của cả 5 trẻ sau thực nghiệm đều cao hơn có ý nghĩa so với trước thực nghiệm (Biểu đồ 3.22), chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm, đặc trưng tâm lý và bản chất của quá trình phát triển kỹ năng giao tiếp ở trẻ tự kỷ lứa tuổi 3 - 4.
- Xác định rõ cấu trúc 5 kỹ năng giao tiếp nền tảng (tập trung chú ý, bắt chước, luân phiên, nghe hiểu, sử dụng ngôn ngữ) phù hợp với quy luật phát triển tâm lý lứa tuổi mầm non và đặc điểm khiếm khuyết của trẻ tự kỷ.
- Làm phong phú thêm lý luận giáo dục đặc biệt và giáo dục hòa nhập tại Việt Nam, đặc biệt là cơ chế tác động sư phạm của giáo viên mầm non trong môi trường lớp học hòa nhập.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, khách quan về mức độ khiếm khuyết KNGT của trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi và thực trạng tổ chức hoạt động can thiệp giao tiếp của giáo viên tại các trường mầm non ở Hà Nội.
- Xây dựng hệ thống bài tập và biện pháp can thiệp KNGT có tính ứng dụng cao, được kiểm chứng thực nghiệm lâm sàng qua 05 trường hợp nghiên cứu điển hình.
- Xây dựng bộ công cụ tiêu chí đánh giá KNGT (Phụ lục 2) và tài liệu hướng dẫn kỹ năng dành cho phụ huynh (Phụ lục 8), làm tài liệu tham khảo cho công tác can thiệp tại gia đình cũng như bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên mầm non dạy hòa nhập.
Kiến nghị và đề xuất giải pháp
- Đề nghị các cơ quan quản lý giáo dục tăng cường chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức giáo dục đặc biệt cho giáo viên mầm non.
- Xây dựng phòng can thiệp cá nhân hoặc bố trí giáo viên hỗ trợ giáo dục đặc biệt trong các trường mầm non có trẻ tự kỷ học hòa nhập.
- Tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và các trung tâm can thiệp sớm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trên nhóm trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi học hòa nhập, không mở rộng sang các dạng rối loạn phát triển khác thuộc phổ tự kỷ như hội chứng Asperger, hội chứng Rett, rối loạn phân rã tuổi ấu thơ hoặc rối loạn phát triển lan tỏa chưa phân định.
- Số lượng khách thể thực nghiệm lâm sàng chuyên sâu gồm 05 trường hợp nghiên cứu điển hình tại địa bàn 3 trường mầm non ở thành phố Hà Nội.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ ở các nhóm độ tuổi khác (như lứa tuổi nhà trẻ dưới 3 tuổi hoặc lứa tuổi tiền tiểu học 5 - 6 tuổi).
- Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp can thiệp KNGT cho trẻ mắc các hội chứng khác thuộc phổ tự kỷ và nhân rộng mô hình thực nghiệm trên các địa bàn tỉnh, thành phố khác.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều đối tượng trong nghiên cứu và thực hành giáo dục:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Giáo dục học, Lý luận và Lịch sử Giáo dục, Giáo dục Mầm non, Giáo dục Đặc biệt và Tâm lý học lâm sàng trẻ em; có thể khai thác khung lý thuyết, tổng quan tài liệu và hệ thống phương pháp nghiên cứu trường hợp.
- Giáo viên mầm non dạy hòa nhập: Tham khảo các biện pháp tổ chức hoạt động dạy học, phương pháp rèn luyện kỹ năng chú ý, bắt chước, luân phiên và xử lý hành vi cho trẻ tự kỷ trong lớp học (Chương 2).
- Cán bộ quản lý giáo dục mầm non: Sử dụng làm căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn và bố trí nguồn lực hỗ trợ trẻ khuyết tật học hòa nhập.
- Cha mẹ có con tự kỷ: Ứng dụng tài liệu hướng dẫn phụ huynh (Phụ lục 8) và quy trình rèn luyện 5 kỹ năng giao tiếp tại môi trường gia đình.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định 5 kỹ năng giao tiếp nền tảng nào cần phát triển cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi?
Năm kỹ năng giao tiếp cốt lõi được luận án xác định và xây dựng biện pháp tác động gồm:
- Kỹ năng tập trung chú ý (quan sát, hướng mắt).
- Kỹ năng bắt chước (bắt chước cử chỉ, vận động, lời nói).
- Kỹ năng luân phiên (thực hiện lần lượt, chờ đợi).
- Kỹ năng nghe hiểu ngôn ngữ (hiểu từ ngữ, mệnh lệnh).
- Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ (dùng lời nói, cử chỉ, tranh ảnh để biểu đạt nhu cầu).
2. Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại các cơ sở nào và trên bao nhiêu trường hợp?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành trên 05 trường hợp nghiên cứu điển hình (bé Nh.A, bé DA, bé MĐ, bé ĐA, bé DKh) tại 3 cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội: Trường mầm non Thực hành Hoa Sen (quận Ba Đình), Trường mầm non Yên Hòa (quận Cầu Giấy), và Trường mầm non Justkids (quận Cầu Giấy).
3. Luận án sử dụng những công cụ, tiêu chuẩn sàng lọc và chẩn đoán nào?
Luận án sử dụng và trích dẫn các thang đo, công cụ chẩn đoán gồm: Thang đánh giá mức độ tự kỷ ở trẻ em CARS (Phụ lục 1), Sổ tay chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần DSM-IV của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (Phụ lục 9), Bảng kiểm CHAT (1996) và M-CHAT (2001), cùng Bộ tiêu chí đánh giá KNGT của trẻ tự kỷ do tác giả xây dựng (Phụ lục 2).
4. Luận án loại trừ những đối tượng nào trong phạm vi nghiên cứu?
Luận án tập trung nghiên cứu trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi học lớp hòa nhập và không nghiên cứu trẻ tự kỷ có đi kèm hội chứng Asperger, rối loạn phân rã, rối loạn phát triển lan tỏa và hội chứng Rett.
5. Phần mềm nào được sử dụng để xử lý số liệu thống kê trong luận án?
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS phiên bản 16.0 để xử lý tần số, tính điểm trung bình và phân tích dữ liệu khảo sát, thực nghiệm.
Kết luận
Luận án "Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi" của tác giả Nguyễn Thị Thanh là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lí luận và lịch sử giáo dục. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về giao tiếp ở trẻ tự kỷ, chỉ ra thực trạng thiếu hụt kỹ năng giao tiếp của trẻ cũng như những hạn chế trong nghiệp vụ can thiệp của giáo viên mầm non tại các lớp hòa nhập. Trên cơ sở đó, hệ thống biện pháp phát triển 5 kỹ năng giao tiếp nền tảng được đề xuất và kiểm chứng qua 05 ca thực nghiệm lâm sàng, đem lại giá trị khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn cho công tác giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ tại Việt Nam.