Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển kỹ năng tự học của HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT Chương 2: Một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT (vận dụng vào dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954) 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HS QUA SỬ DỤNG TLTK TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT 1. Một số khái niệm cơ bản 1.Khái niệm tự học Có nhiều quan điểm khác nhau về tự học. Rubakin trong cuốn “Tự học như thế nào” đã kết luận rằng: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra cho mình câu hỏi rồi tự tìm lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học”. Ông cho rằng tự học không chỉ là xem sách mà còn phải biết so sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống, biết liên hệ giữa các môn khoa học.
Không nên sợ bất đồng ý kiến với người khác, không nghiên cứ cái chung chung mà phải nghiên cứu vấn đề đang trao đổi, thảo luận – “hãy học bằng tất cả lí trí, tâm hồn, cảm xúc của chính mình”. Như vậy, với Rubakin tự học là một quá trình người học tự so sánh, đối chiếu hỏi và đáp, so sánh lý thuyết và thực hành, giữa sách vở với thực tế cuộc sống từ đó rút ra cho mình một tri thức riêng đầy sáng tạo. Theo GS TS Đặng Vũ Hoạt thì “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình SGK đã được quy định. Tự học có quan hện chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân [25, 174] Đối với GS Nguyễn Cảnh Toàn, thì “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngoài thành tri thức bên trong con người mình”.
“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [60, tr. 621] Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm tự học như sau: “Tự học là hoạt động tự giác, tích cực, tự lực phát huy nội lực của bản thân nhằm tìm ra cách học để lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành và phát triển tàn diện nhân cách người học” Hoạt động tự học diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Đối với HS THPT, tự học chính là tự học có hướng dẫn của GV. Với sự hướng dẫn của GV, HS tự phải phát huy cao độ tính tích cực chủ động để tự tìm ra kiến thức, biến kiến thức của nhân loại thành của mình.
Khi hoạt động tự học không có GV điều khiển trực tiếp, HS tự mình sắp xếp kế hoạch, huy động các năng lực bản thân để củng cố, đào sâu , mở rộng và hoàn chỉnh tri thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập do GV giao cho, đồng thời lĩnh hội tri thức mới. Với vai trò là nội lực, tự học có ý nghĩa quyết định trong quá trình nhận thức. Chất lượng giáo dục đạt được đỉnh cao khi tác động dạy của GV (ngoại lực) cộng hưởng với năng lực tự học của HS (nội lực). GV giỏi là thầy dạy cho HS biết tự học.
Song động lực tự học sẽ khó phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn của GV và sự hợp tác của HS. Ngược lại, tác động của GV và môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu không phát huy được động lực tự học của HS. Do đó, phải kết hợp nội lực với ngoại lực để phát huy cao nhất chất lượng học tập. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm kỹ năng Có nhiều ý kiến khác nhau về kỹ năng.N Gônôbôlin cho rằng: “Kỹ năng là phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó. Các hành động này được hoàn thành trên cơ sở của các trí thức, kỹ năng và kỹ xảo – những cái con người được lĩnh hội trong quá trình hành động” [53, tr. Levitôv cho rằng: “Kỹ năng là khả năng con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm – những cái đã được lĩnh hội từ trước” [53, tr.N xcatkin: “Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức, kỹ năng chính là kiến thức trên hành động” [51, tr.P Êxipôp trong giáo trình “Những cơ sở của lý luận dạy học” (Nxb Giáo dục, 1971), tập 2 cho rằng: kỹ năng chính là khả năng con người biết sử dụng một cách có mục đích, sáng tạo những tri thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động thực tiễn. Trong nước, cá nhà tâm lý học, giáo dục cũng có những quan điểm khác nhau về kỹ năng: Theo GS Trần Bá Hoành: “Kỹ năng chính là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào hoạt động thực tiễn” [52, tr.
14] PGS TS Phạm Viết Vượng khẳng định: “Kỹ năng là khả năng thực hiện thành công một loại công việc trên cơ sở nắm vững lý thuyết. Kỹ năng được hình thành trong quá trình rèn luyện lâu dài” [71, tr. 78] GS TS Nguyễn Thị Côi cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những kinh nghiệm cho phép” [12, tr. 14] 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, cơ bản tồn tại hai quan niệm khác nhau về kỹ năng.
Khi thì kỹ năng được xem xét ở khía cạnh kỹ thuật của hành động (A.A Rubakin, Trần Trọng Thủy…), có khi được xem xét ở bình diện năng lực thực hiện hành động (N.Levitov, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết…). Chúng tôi tiếp cận kỹ năng trên bình diện khả năng thực hiện được hành động nào đó đúng theo mục đích, yêu cầu của hành động ấy. Khả năng được hiểu là “tính chất của người có những điều kiện tự nhiên hoặc do hoàn thiện, học tập hay kinh nghiệm tạo ra để làm tốt việc gì” (Từ điển tiếng Việt, 1997) Như vậy, khả năng là khái niệm rộng. Nó không chỉ bao gồm những điều kiện cho phép cá nhân được thực hiện hành động, sự nhận thức về mục tiêu hành động mà cá nhân đạt đến mà còn bao hàm cả các mức độ thực hiện hành động – các mức độ của kỹ năng.
Từ cách hiểu trên, có thể rút ra 2 nhận xét sau: - Kỹ năng là từ dùng để chỉ mức độ nhất định của khả năng thực hiện có hiệu quả những yêu cầu của một hoạt động nhất định. Trong một kỹ năng cụ thể lại bao gồm những kỹ năng nhỏ hơn – các kỹ năng bộ phận. - Kỹ năng có thể được hình thành nhờ tác động của dạy học. Nhờ học tập và rèn luyện mà cá nhân có được kỹ năng của một hoạt động nhất định.
Điều này thực sự có ý nghĩa với việc hình thành và phát triển kỹ năng tự học của HS. - Từ những phân tích trên theo chúng tôi, kỹ năng có thể hiểu là khả năng thực hiện có kết quả một hành động trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để đạt được mục tiêu và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cho phép. Về khái niệm “năng lực”, các tác giả X. Roegiers, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kỳ đưa ra các quan điểm khác nhau nhưng nhìn chug đều thông nhất 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rằng: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay các cá nhân trong tình huống khác nhau, trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng trong hành động.
Như vậy, kỹ năng và năng lực đều là sản phẩm của quá trình đào tạo, rèn luyện (bao gồm cả tự đào tạo, tự rèn luyện). Kỹ năng có tính riêng lẻ, cụ thể, còn năng lực có tính tổng hợp, khái quát. Kỹ năng là bộ phận cấu thành năng lực của con người trong hoạt động thực tiễn. Kỹ năng tự học và tự học lịch sử Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả hoạt động tự học cũng như những hiểu biết về hoạt động tự học và kỹ năng tự học mà người học đã được lĩnh hội trong hoạt động dạy học.
Trong dạy học Lịch sử, quan niệm về vấn đề tự học của HS là quan trọng để giúp cho GV xác định các phương pháp dạy học thích hợp. Trước đây đã tồn tại một số quan niệm sai lầm cho rằng: HS chỉ cần nhớ một số điều cơ bản, thuộc lòng một số sự kiện, tóm tắt sơ lược nội dung SGK, không có tư duy, không cần thực hành. Quan niệm này đã làm nghèo nội dung, hạ thấp chất lượng, hứng thú học tập và khả năng tự học của HS. Ngày nay, cùng với quá trình đổi mới giáo dục, chúng ta cần có quan niệm đúng về tự học Lịch sử của HS.
Tự học LS là việc HS tự nắm vững kiến thức lịch sử một cách chính xác, vững chắc, được suy nghĩ nhận thức sâu sắc và có thể vận dụng một cách thành thạo. Như vậy, tự học lịch sử của HS là việc tự nắm vững kiến thức lịch sử và vận dụng thành thạo. Đó là quá trình đi từ biết đến hiểu đến vận dụng. Học tập lịch sử là quá trình nhận biết những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội để hiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.