Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam luôn đòi hỏi những can thiệp xã hội chuyên sâu và có tính hệ thống. Tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III thành phố Hà Nội – đơn vị có hơn 25 năm hoạt động từ năm 1992 và đã tiếp nhận chăm sóc trên 1.000 lượt đối tượng yếu thế – hiện đang trực tiếp quản lý, nuôi dưỡng gần 200 người, bao gồm 95 người già cô đơn và gần 100 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Dù mức chuẩn trợ giúp xã hội từ ngân sách nhà nước đạt hệ số 1,5 đến 2,5 (tương đương 405.000 đồng đến 675.000 đồng/tháng/trẻ) giúp bảo đảm các nhu cầu dinh dưỡng, y tế và học tập cơ bản, nhưng công tác tham vấn tâm lý và phát triển kỹ năng sống cho các em vẫn còn nhiều khoảng trống thực tiễn.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là phần lớn trẻ em mồ côi sống trong môi trường tập trung thường đối mặt với rào cản tâm lý nặng nề, mặc cảm số phận, thiếu hụt kỹ năng giao tiếp, khả năng chia sẻ và tinh thần làm việc nhóm. Nhằm giải quyết thực trạng này, đề tài tập trung nghiên cứu mô tả đặc điểm tâm sinh lý, đánh giá nhu cầu của nhóm thân chủ gồm 14 trẻ em mồ côi trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi, từ đó ứng dụng tiến trình công tác xã hội nhóm kết hợp nghệ thuật kịch sáng tạo để phát triển các kỹ năng sống thiết yếu. Phạm vi không gian được thực hiện tại Cơ sở 1 của Trung tâm Bảo trợ xã hội III (thôn Miêu Nha, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) với diện tích khuôn viên 5.000 m2, trong khung thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp 100% trẻ tham gia nâng cao sự tự tin, gia tăng mức độ cố kết nhóm và cung cấp mô hình can thiệp chuẩn mực có thể nhân rộng tại các cơ sở bảo trợ xã hội trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên sự kết hợp liên ngành giữa ba nền tảng lý thuyết xã hội học và tâm lý học hành vi:

  • Lý thuyết hệ thống sinh thái: Kế thừa các luận điểm của Bertalanffy, Hearn, Siporin, Germain và Gitterman, xem xét cá nhân trẻ em mồ côi là một tiểu hệ thống sống động tương tác liên tục với ba cấp độ môi trường xung quanh: hệ thống phi chính thức (bạn bè cùng phòng, người thân còn lại), hệ thống chính thức (đoàn thể, nhóm can thiệp) và hệ thống xã hội (nhà trường, trung tâm bảo trợ, trạm y tế). Nghiên cứu vận dụng bốn chức năng hệ thống theo mô hình của Parsons, Bales và Shils gồm: hòa nhập, điều chỉnh, duy trì mô hình và thực hiện mục tiêu để duy trì sự cân bằng hành vi cho trẻ.
  • Lý thuyết học tập xã hội: Vận dụng các nguyên tắc bắt chước và lây lan hành vi từ quan điểm của Gabriel Tarde và Albert Bandura. Trong không gian nhóm, các biểu hiện tự tin, hòa đồng của các thành viên tích cực được củng cố và lan tỏa tự nhiên sang các em nhút nhát, rụt rè thông qua quá trình quan sát và tập diễn lại các khuôn mẫu ứng xử chuẩn mực.
  • Thang bậc nhu cầu Maslow: Cung cấp khung đánh giá 5 tầng nhu cầu của thân chủ, từ nhu cầu sinh lý, an toàn đến nhu cầu xã hội, được tôn trọng và nhu cầu phát triển bản thân.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm công cụ trọng tâm bao gồm: Công tác xã hội nhóm, Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo Luật Trẻ em số 102/2016/QH13, Kỹ năng sống theo khung chuẩn 10 kỹ năng cốt lõi của UNICEF/WHO/UNESCO, và kỹ thuật kịch nghệ thuật sáng tạo với 3 trục chủ đề xuyên suốt: quá khứ, hiện tại và tương lai.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng thực chứng với các nguồn dữ liệu cụ thể:

  • Khách thể và cỡ mẫu nghiên cứu: Chọn mẫu chủ đích gồm 14 trẻ em mồ côi (6 nữ, 8 nam, độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi) đang được nuôi dưỡng tại trung tâm để tham gia trực tiếp vào tiến trình can thiệp nhóm. Khảo sát mở rộng với 42 cán bộ, nhân viên tại Cơ sở 1 trên tổng số 79 cán bộ toàn trung tâm nhằm thu thập thông tin đa chiều.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Phân tích tài liệu thứ cấp: Khảo sát hồ sơ lưu trữ, dữ liệu quản lý 5 năm liên tiếp (2012-2016) về biến động số lượng đối tượng (190 đến 219 người) và kết quả học tập của trẻ.
    • Phỏng vấn sâu: Thực hiện với 4 cán bộ quản lý, chuyên môn (Giám đốc, Trưởng phòng Hành chính tổng hợp, Trưởng phòng Chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng, Trưởng phòng Y tế) và 5 trẻ em mồ côi đại diện.
    • Quan sát tham dự: Xây dựng đề cương quan sát chi tiết theo 5 nhóm tiêu chí (hoạt động thường nhật, ứng xử giữa trẻ với cán bộ, tương tác nội bộ nhóm, phản ứng trong can thiệp kịch, điều kiện cơ sở vật chất).
    • Thảo luận nhóm tập trung: Điều phối 14 thành viên nhóm kết hợp các công cụ trực quan như vẽ tranh, phiếu đánh giá nhu cầu.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc kết hợp phỏng vấn sâu, quan sát thực địa và can thiệp nhóm thực nghiệm trong suốt 4 tháng (11/2017 - 02/2018) cho phép nhân viên công tác xã hội thấu cảm sâu sắc những chấn thương tâm lý tiềm ẩn của trẻ, từ đó điều chỉnh linh hoạt các bài tập kịch nghệ thuật phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhận thức.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu thực tế tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III đã làm nổi bật ba phát hiện then chốt:

  • Thứ nhất, công tác bảo trợ xã hội và chăm sóc thể chất đạt hiệu quả cao nhưng chịu áp lực lớn về quy mô: Giai đoạn 2012-2016, trung tâm luôn tiếp nhận vượt công suất kế hoạch được giao, dao động từ 101% đến 132% (năm 2012 đạt 190 người, bằng 126% kế hoạch; năm 2013 đạt 212 người, bằng 132% kế hoạch; năm 2016 đạt 202 người, bằng 101% kế hoạch). Năm 2016, trong tổng số 40 trẻ trong độ tuổi đến trường, có 42,5% trẻ đạt kết quả học lực khá và giỏi (5 học sinh giỏi, 12 học sinh khá, 17 trung bình), cùng 3 em theo học trung cấp, cao đẳng và đại học.
  • Thứ hai, thiếu hụt trầm trọng các kỹ năng sống cơ bản và sự tổn thương tâm lý sâu sắc: Khảo sát ban đầu cho thấy 100% trong số 14 trẻ thuộc nhóm nghiên cứu gặp trở ngại lớn về kỹ năng giao tiếp và thuyết trình trước đám đông; hơn 70% trẻ thể hiện tâm lý tự ti, mặc cảm về hoàn cảnh gia đình hoặc kích hoạt cơ chế phòng vệ tiêu cực (lỳ lợm, khóc lóc, dễ gây gổ).
  • Thứ ba, sự chuyển biến vượt bậc sau can thiệp công tác xã hội nhóm bằng kịch sáng tạo: Trải qua tiến trình can thiệp 4 giai đoạn, 14/14 trẻ (100%) đã chủ động tham gia diễn xuất, bày tỏ nguyện vọng và cảm xúc cá nhân. Tỷ lệ xung đột, tranh cãi giữa các em giảm hơn 80%, tinh thần đoàn kết và kỹ năng làm việc nhóm được nâng cao rõ rệt thông qua việc cùng nhau hoàn thành các tiểu phẩm về chủ đề cuộc sống.

Thảo luận kết quả

Thực trạng thiếu hụt kỹ năng sống của trẻ em mồ côi tại cơ sở bắt nguồn từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, định mức trợ cấp 405.000 đồng/tháng đối với trẻ từ 4 tuổi trở lên và 675.000 đồng/tháng đối với trẻ dưới 4 tuổi chủ yếu đáp ứng nhu cầu ăn ở tối thiểu. Cơ cấu 79 cán bộ phân bổ cho 3 cơ sở với nhiệm vụ chăm sóc song song cả người già cô đơn và trẻ em khiến quỹ thời gian dành cho hoạt động hỗ trợ tâm lý chuyên sâu bị phân tán. Thêm vào đó, việc xử lý các vấn đề tâm lý của cán bộ nuôi dưỡng đôi khi mang tính tức thời bằng mệnh lệnh hoặc khiển trách, thiếu vắng các kỹ thuật can thiệp lâm sàng.

Về chủ quan, mất mát tình cảm gia đình từ sớm khiến trẻ thiết lập rào cản phòng vệ tâm lý kiên cố để tự bảo vệ mình. Khi đối chiếu với các nghiên cứu phát triển kỹ năng sống quốc tế của Gilbert Botvin (1979) và mô hình giáo dục kỹ năng sống của UNICEF (1996), việc ứng dụng nghệ thuật kịch đã chứng minh tính ưu việt vượt trội: kịch nghệ thuật không đặt nặng chất lượng biểu diễn mà tập trung vào tiến trình để trẻ tự kể câu chuyện đời mình. Sự biến chuyển hành vi của nhóm thân chủ có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ đường thể hiện mức độ gia tăng tương tác tích cực của 14 thành viên qua 12 buổi sinh hoạt nhóm, cùng bảng ma trận so sánh 5 thang đo kỹ năng (tự nhận thức, lắng nghe, hợp tác, kiểm soát cảm xúc, trình bày) trước và sau can thiệp, phản ánh rõ nét bước chuyển từ trạng thái thụ động, mặc cảm sang chủ động, cởi mở.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng phát triển kỹ năng sống cho trẻ em mồ côi tại các cơ sở bảo trợ xã hội, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất cụ thể:

  • Chuẩn hóa quy trình công tác xã hội nhóm ứng dụng nghệ thuật kịch: Ban Giám đốc và Phòng Quản lý giáo dục nuôi dưỡng cần phối hợp xây dựng chương trình sinh hoạt chuyên đề định kỳ từ 8 đến 10 buổi/quý. Chương trình tập trung vào 4 nhóm kỹ năng trọng tâm: giao tiếp ứng xử, quản lý cảm xúc, làm việc đồng đội và trình bày trước công chúng. Mục tiêu đạt 100% trẻ em từ 6 đến 16 tuổi tại trung tâm được tham gia rèn luyện thường xuyên; hoàn thành ban hành khung giáo trình trong vòng 12 tháng từ Quý I/2019.
  • Tập huấn và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội cần phối hợp với các học viện, trường đại học chuyên ngành tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo nghiệp vụ/năm cho 42 cán bộ, nhân viên tại Cơ sở 1. Nội dung tập huấn tập trung vào kỹ năng tham vấn tâm lý trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và phương pháp điều phối nhóm thân chủ; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ cán bộ nắm vững nghiệp vụ can thiệp chuyên nghiệp từ 25% lên trên 80% trong vòng 24 tháng (2019-2020).
  • Mở rộng liên kết mạng lưới hỗ trợ xã hội và hoạt động ngoại khóa: Đơn vị cần chủ động ký kết chương trình phối hợp với tối thiểu 5 trường đại học và tổ chức tình nguyện trên địa bàn Hà Nội để tổ chức ít nhất 4 chương trình giao lưu văn hóa, dã ngoại/năm. Mục tiêu tạo môi trường hòa nhập thực tế cho gần 100 trẻ em đang nuôi dưỡng, xóa bỏ rào cản tự ti trước cộng đồng, triển khai định kỳ bắt đầu từ năm 2019.
  • Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và nâng cấp hạ tầng chuyên dụng: Kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền nâng định mức hỗ trợ cho trẻ mồ côi theo học đại học, cao đẳng lên hệ số 2,0 hoặc 3,0 mức chuẩn trợ cấp xã hội. Đồng thời, dành tối thiểu 15% kinh phí hoạt động thường niên để nâng cấp trang thiết bị phòng sinh hoạt nhóm, phòng tư vấn tâm lý đa năng trước năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo ứng dụng và học thuật thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý và nhân viên tại các trung tâm bảo trợ xã hội: Cung cấp cẩm nang thực hành chi tiết về quy trình can thiệp 4 giai đoạn và phương pháp tổ chức các buổi kịch nghệ thuật nhằm nâng cao kỹ năng sống cho hơn 100 đối tượng trẻ em yếu thế đang được nuôi dưỡng tập trung.
  • Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu ngành Công tác xã hội, Xã hội học: Làm tài liệu tham khảo học thuật giá trị về việc vận dụng sáng tạo lý thuyết hệ thống sinh thái, lý thuyết học tập xã hội và thang Maslow vào xử lý các tình huống thực địa với nhóm khách thể 14 thân chủ trẻ em.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức tình nguyện vì trẻ em: Khai thác khung đánh giá nhu cầu và các công cụ bổ trợ trực quan (vẽ tranh, sắm vai, thảo luận nhóm) để thiết kế các dự án phát triển cộng đồng dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam.
  • Sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội và Tâm lý học giáo dục: Cung cấp tài liệu hướng dẫn tác nghiệp mẫu mực về kỹ năng lập hồ sơ thân chủ, xây dựng đề cương quan sát 5 tiêu chí và phương pháp điều phối các buổi làm việc nhóm có xung đột tâm lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương pháp kịch nghệ thuật sáng tạo mang lại lợi ích gì khác biệt so với các lớp học kỹ năng sống truyền thống?
Kịch nghệ thuật sáng tạo không áp đặt lý thuyết một chiều mà tạo không gian an toàn để 14 trẻ em mồ côi tự do tái hiện trải nghiệm quá khứ, hiện tại và ước mơ tương lai. Phương pháp này giúp giải tỏa dồn nén cảm xúc, gia tăng 100% sự tương tác tự nhiên và nâng cao lòng tự trọng của trẻ.

2. Làm thế nào để đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy của dữ liệu với cỡ mẫu 14 trẻ em?
Luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp chuyên sâu trong công tác xã hội lâm sàng. Dữ liệu 14 thân chủ được đối sánh chéo với hồ sơ quản lý 5 năm (2012-2016) của hơn 200 đối tượng, cùng thông tin phỏng vấn sâu 4 cán bộ chuyên trách và 5 trẻ đại diện nhằm bảo đảm tính khách quan.

3. Mức trợ cấp xã hội hiện nay ảnh hưởng thế nào đến quá trình phát triển toàn diện của trẻ tại trung tâm?
Mức chuẩn 405.000 đồng đến 675.000 đồng/tháng/trẻ cơ bản đáp ứng nhu cầu ăn ở nhưng chưa đủ ngân sách cho các dịch vụ trị liệu tâm lý và đào tạo kỹ năng chuyên sâu. Điều này đòi hỏi cơ sở phải huy động thêm nguồn lực xã hội hóa để tổ chức các chương trình phát triển KNS định kỳ.

4. Nhân viên công tác xã hội cần xử lý thế nào khi các thành viên nhóm nảy sinh mâu thuẫn hoặc kháng cự?
Nhân viên xã hội cần tuân thủ nguyên tắc tôn trọng và chấp nhận thân chủ, sử dụng lý thuyết học tập xã hội để điều chỉnh hành vi lệch chuẩn bằng cách củng cố các phản hồi tích cực. Việc ứng dụng bài tập kịch đóng vai giúp trẻ tự đặt mình vào vị trí của bạn, giảm trên 80% xung đột.

5. Mô hình công tác xã hội nhóm này có thể ứng dụng cho các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác không?
Tiến trình 4 giai đoạn hoàn toàn có thể chuyển giao áp dụng cho các nhóm trẻ em lang thang, trẻ bị bạo lực gia đình hoặc trẻ em khuyết tật tại các mái ấm trên toàn quốc, nhờ tính linh hoạt cao của phương pháp kịch sáng tạo và các nguyên tắc công tác xã hội nhóm chuẩn mực.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm và phát triển kỹ năng sống cho trẻ em mồ côi dựa trên khung pháp lý Luật Trẻ em 2016.
  • Đánh giá thực chứng bức tranh chăm sóc, giáo dục gần 200 đối tượng yếu thế tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016.
  • Thực nghiệm thành công quy trình can thiệp 4 giai đoạn kết hợp kịch nghệ thuật sáng tạo, giúp 14 trẻ em mồ côi hoàn thiện kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với mục tiêu cụ thể, nâng tỷ lệ cán bộ vững kỹ năng can thiệp chuyên nghiệp lên trên 80%.
  • Mở ra hướng tiếp cận liên ngành giàu tính nhân văn giữa nghệ thuật biểu diễn và công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam.

Để tiếp tục hoàn thiện mô hình, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi thực nghiệm tại Cơ sở 2 (Lạc Trung) và Cơ sở 3 (Mỹ Đình) của trung tâm trong giai đoạn 2019-2020 với quy mô trên 50 trẻ. Kính mời các nhà nghiên cứu, cán bộ thực hành xã hội và quý độc giả tham khảo chi tiết toàn văn luận văn để cùng chung tay nâng cao hiệu quả bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.