Luận văn thạc sĩ: Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Luận văn thạc sĩ về phát triển kinh tế tư nhân tại Phú Thọ. Nghiên cứu sâu về thực trạng, giải pháp thúc đẩy kinh tế tư nhân địa phương.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kinh tế tư nhân tỉnh Phú Thọ Động lực cốt lõi

Khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) tại tỉnh Phú Thọ đã và đang khẳng định vai trò là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Kể từ khi chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước được triển khai, đặc biệt là với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp tư nhân Phú Thọ đã gia tăng mạnh mẽ, đóng góp lớn vào tăng trưởng GRDP tỉnh Phú Thọ. Luận văn "Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ" của tác giả Phan Quốc Anh (2014) đã cung cấp một cái nhìn hệ thống về quá trình này. Ban đầu, các doanh nghiệp chủ yếu là kinh tế hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ. Dần dần, cơ cấu đã có sự chuyển dịch sang các loại hình đa sở hữu như công ty TNHH và công ty cổ phần, cho thấy sự trưởng thành và khả năng huy động vốn đầu tư tư nhân ngày càng hiệu quả. Sự phát triển này không chỉ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm cho người lao động và tăng đóng góp ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Phú Thọ chiếm đa số, thể hiện tính năng động, linh hoạt và khả năng thích ứng cao với thị trường. Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng bộc lộ nhiều thách thức cần giải quyết để khu vực KTTN thực sự trở thành xương sống của nền kinh tế tỉnh.

1.1. Vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế địa phương

Vai trò kinh tế tư nhân được thể hiện rõ nét qua các đóng góp cụ thể. Thứ nhất, khu vực này huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, đặc biệt là vốn và lao động, vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ hai, KTTN làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, buộc các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước, phải không ngừng đổi mới công nghệ và phương thức quản lý. Thứ ba, KTTN đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, nổi bật là tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững. Cuối cùng, sự phát triển của KTTN còn thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và hình thành các chuỗi liên kết kinh tế vùng, đặc biệt là các doanh nghiệp vệ tinh cho các khu công nghiệp Phú Thọ.

1.2. Sơ lược quá trình hình thành doanh nghiệp tư nhân Phú Thọ

Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp tư nhân Phú Thọ gắn liền với các cột mốc pháp lý quan trọng của đất nước. Giai đoạn trước năm 2000, các doanh nghiệp chủ yếu hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH với quy mô nhỏ. Giai đoạn 2009-2013, theo dữ liệu từ luận văn gốc, chứng kiến sự bùng nổ về số lượng doanh nghiệp thành lập mới. Cụ thể, đến hết năm 2013, tỉnh có 4.728 doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN, chiếm tỷ lệ trên 97% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh. Đáng chú ý là xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang loại hình công ty TNHH (chiếm 56.4% số doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2009-2013) và công ty cổ phần (31.5%), cho thấy sự thay đổi trong tư duy kinh doanh, hướng đến sự bền vững và khả năng huy động vốn lớn hơn.

II. Phân tích thực trạng kinh tế tư nhân tỉnh Phú Thọ Thách thức

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, thực trạng kinh tế tư nhân tại Phú Thọ vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và đối mặt với không ít thách thức. Một trong những rào cản lớn nhất là môi trường kinh doanh chưa thực sự thuận lợi và ổn định. Dữ liệu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Phú Thọ trong giai đoạn 2009-2013 cho thấy sự trồi sụt liên tục, xếp hạng ở nhóm trung bình và tương đối thấp của cả nước. Cụ thể, năm 2013, chỉ số PCI của tỉnh tụt xuống hạng 54/63. Các chỉ số thành phần như chi phí không chính thức, tính năng động của chính quyền và hỗ trợ doanh nghiệp thường xuyên ở mức thấp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Phú Thọ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực quan trọng. Vấn đề thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, và đặc biệt là thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao là những điểm nghẽn cố hữu. Hầu hết doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ và siêu nhỏ, hạn chế khả năng đầu tư vào công nghệ hiện đại và mở rộng sản xuất. Khả năng tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh cũng là một bài toán nan giải, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế này.

2.1. Hạn chế môi trường kinh doanh qua chỉ số PCI Phú Thọ

Luận văn đã phân tích chi tiết chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Phú Thọ giai đoạn 2009-2013, cho thấy một bức tranh kém sáng. Sự thiếu ổn định trong xếp hạng (từ 53/63 năm 2010 lên 27/63 năm 2011 rồi lại tụt xuống 54/63 năm 2013) phản ánh chất lượng điều hành kinh tế chưa bền vững. Các doanh nghiệp phải đối mặt với "chi phí không chính thức" và "chi phí thời gian" để tuân thủ các quy định của nhà nước còn cao. Chỉ số "tính năng động" của lãnh đạo tỉnh cũng được đánh giá thấp, cho thấy sự chậm trễ trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Đây là những yếu tố cốt lõi làm giảm sức hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư tư nhân và kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp hiện hữu.

2.2. Khó khăn về vốn công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao

Đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Phú Thọ có quy mô vốn đăng ký khiêm tốn. Theo thống kê, phần lớn doanh nghiệp thành lập mới trong giai đoạn 2009-2013 thuộc nhóm nhỏ và siêu nhỏ. Việc tiếp cận tín dụng ngân hàng còn nhiều rào cản do thiếu tài sản thế chấp và năng lực xây dựng dự án kinh doanh khả thi. Về công nghệ, nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng máy móc thiết bị lạc hậu, chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc, làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Tình trạng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là lao động có tay nghề và kỹ năng quản trị hiện đại, là một thách thức lớn, khiến doanh nghiệp khó bắt kịp xu hướng thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

III. Bí quyết phát triển kinh tế tư nhân Cải thiện môi trường

Để tháo gỡ các điểm nghẽn, giải pháp phát triển kinh tế hàng đầu là tập trung vào việc cải thiện môi trường kinh doanh một cách thực chất và bền vững. Đây là nhiệm vụ trọng tâm được nhấn mạnh trong phần định hướng của luận văn. Tỉnh Phú Thọ cần xác định việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là mục tiêu chiến lược. Giải pháp cốt lõi là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng minh bạch, đơn giản và hiệu quả. Việc giảm thiểu "chi phí không chính thức" và "chi phí thời gian" cho doanh nghiệp phải được xem là thước đo hiệu quả công việc của các cơ quan công quyền. Bên cạnh đó, chính quyền cần thể hiện "tính năng động" cao hơn thông qua việc xây dựng cơ chế đối thoại thường xuyên với cộng đồng doanh nghiệp. Việc lắng nghe, tiếp thu và giải quyết kịp thời các vướng mắc sẽ tạo dựng niềm tin, khuyến khích thu hút đầu tư tư nhân và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm sản xuất kinh doanh. Xây dựng một môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế là nền tảng để KTTN phát triển lành mạnh.

3.1. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và nâng cao PCI

Cải cách thủ tục hành chính cần tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm như đăng ký kinh doanh, cấp phép đầu tư, đất đai, thuế và hải quan. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử và triển khai mô hình một cửa liên thông là những bước đi cần thiết. Mục tiêu là công khai, minh bạch hóa toàn bộ quy trình, quy hoạch và chính sách để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận. Việc cải thiện từng chỉ số thành phần của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Phú Thọ sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, giúp xây dựng hình ảnh một địa phương thân thiện với nhà đầu tư.

3.2. Xây dựng cơ chế đối thoại và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

Lãnh đạo tỉnh và các sở, ban, ngành cần định kỳ tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp với cộng đồng doanh nghiệp tư nhân Phú Thọ. Đây là kênh thông tin hai chiều hiệu quả để chính quyền nắm bắt khó khăn, còn doanh nghiệp có cơ hội đề xuất, kiến nghị. Các vướng mắc liên quan đến mặt bằng sản xuất, thủ tục vay vốn, hay các rào cản thị trường cần được ghi nhận và có lộ trình giải quyết cụ thể. Việc thành lập và nâng cao vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp cũng là một giải pháp quan trọng để tạo ra tiếng nói chung, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các thành viên.

IV. Top giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho kinh tế tư nhân Phú Thọ

Bên cạnh việc cải thiện môi trường vĩ mô, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp một cách trực tiếp và cụ thể đóng vai trò quyết định. Luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp toàn diện nhằm tăng cường năng lực nội tại cho khu vực KTTN. Thứ nhất là giải pháp hỗ trợ về tài chính và tiếp cận vốn. Cần có cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng đơn giản hóa thủ tục cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Phú Thọ, đồng thời phát triển các quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ đầu tư mạo hiểm. Thứ hai, giải pháp hỗ trợ về mặt bằng sản xuất. Tỉnh cần quy hoạch và đầu tư hoàn thiện hạ tầng giao thông Phú Thọ và các khu công nghiệp Phú Thọ, cụm công nghiệp với chính sách thuê đất ưu đãi dành riêng cho SME. Thứ ba là hỗ trợ đổi mới công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Các chương trình khuyến công, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, liên kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo cần được đẩy mạnh. Cuối cùng, giải pháp hỗ trợ tiếp cận thị trường thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin thị trường và xây dựng thương hiệu sản phẩm là vô cùng cần thiết.

4.1. Chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn và mặt bằng sản xuất

Để giải quyết bài toán vốn đầu tư tư nhân, tỉnh có thể đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại. Các chương trình hỗ trợ lãi suất cho các dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên cần được triển khai. Về mặt bằng, việc công khai quỹ đất sạch trong các khu, cụm công nghiệp và đơn giản hóa thủ tục giao đất, cho thuê đất sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào và nhanh chóng triển khai dự án. Việc đầu tư vào hạ tầng giao thông Phú Thọ đồng bộ sẽ nâng cao khả năng kết nối và lưu thông hàng hóa.

4.2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực và đổi mới công nghệ

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố sống còn. Tỉnh cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nghề, đặt hàng đào tạo theo nhu cầu. Các trung tâm dạy nghề cần được đầu tư để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới máy móc thiết bị để nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh, góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.

4.3. Hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường và xúc tiến thương mại

Nhà nước cần đóng vai trò tích cực trong việc cung cấp thông tin về thị trường trong nước và xuất khẩu. Tổ chức các hội chợ thương mại, các đoàn khảo sát thị trường nước ngoài, và hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu là những hoạt động thiết thực. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Phú Thọ tham gia vào các sàn thương mại điện tử và chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ mở ra những cơ hội phát triển mới, bền vững hơn.

V. Định hướng phát triển kinh tế tư nhân Phú Thọ trong tương lai

Định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn tới xác định KTTN là một động lực tăng trưởng đột phá. Mục tiêu là phát triển khu vực này cả về số lượng và chất lượng, hình thành một cộng đồng doanh nghiệp lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh cao. Định hướng tập trung vào việc tạo ra một hệ sinh thái kinh doanh thuận lợi, nơi mọi doanh nghiệp đều được đối xử bình đẳng và có cơ hội phát triển. Tỉnh sẽ ưu tiên thu hút đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực có lợi thế như công nghiệp chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, du lịch và dịch vụ. Việc phát triển các khu công nghiệp Phú Thọ theo hướng hiện đại, xanh và bền vững là ưu tiên hàng đầu. Đồng thời, tỉnh sẽ khuyến khích sự hình thành các chuỗi liên kết kinh tế vùng, kết nối doanh nghiệp Phú Thọ với các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Hải Phòng. Tương lai của kinh tế tư nhân Phú Thọ phụ thuộc vào sự quyết tâm chính trị, nỗ lực cải cách của chính quyền và sự năng động, sáng tạo của chính các doanh nhân.

5.1. Mục tiêu và quan điểm phát triển KTTN của tỉnh

Quan điểm của tỉnh là phát triển KTTN một cách toàn diện, không giới hạn về quy mô, ngành nghề, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân Phú Thọ lớn mạnh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Mục tiêu đến năm 2030, khu vực KTTN sẽ đóng góp trên 60% vào GRDP tỉnh Phú Thọ, trở thành khu vực kinh tế chủ lực trong việc tạo việc làm cho người lao động và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỉnh khuyến khích các hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp, và các doanh nghiệp nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa và lớn.

5.2. Các ngành nghề ưu tiên và định hướng thu hút đầu tư

Dựa trên tiềm năng và lợi thế, tỉnh xác định một số lĩnh vực ưu tiên để thu hút đầu tư tư nhân. Bao gồm: công nghiệp chế biến chè, gỗ và các sản phẩm nông nghiệp khác; sản xuất vật liệu xây dựng công nghệ cao; phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng gắn với các di tích lịch sử văn hóa như Đền Hùng; và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho các khu công nghiệp Phú Thọ. Các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai sẽ được áp dụng cho các dự án đầu tư vào những lĩnh vực này, đặc biệt là các dự án có công nghệ hiện đại và thân thiện với môi trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu, kết luận, phụ lục tham khảo, danh mục viết tắt, bảng biểu luận văn bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển KTTN với phát triển Kinh tế - Xã hội ở Việt nam; Chƣơng 2: Thực trạng Phát triển KTTN tại tỉnh Phú Thọ; Chƣơng 3: Một số định hƣớng và giải pháp chính sách phát triển KTTN trong thời gian tới. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KTTN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM ĐẶC ĐIỂM CỦA KTTN 1. Khái niện KTTN Kinh tế tƣ nhân (KTTN): là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất và tƣơng ứng với phƣơng thức quản lý, phân phối phù hợp với hình thức sở hữu đó.

Khu vực KTTN là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị đƣợc tổ chức dựa trên sở hữu tƣ nhân. Khu vực KTTN, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các doanh nghiệp vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, không những là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trên bình diện xã hội chính trị, góp phần hình thành một xã hội công dân, qua đó, ngƣời dân có đƣợc vị thế Kinh tế - Xã hội độc lập hơn và có điều kiện phát huy khả năng trong môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh. Khu vực KTTN, hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các hoạt động KTTN trong nƣớc (gồm Kinh tế cá thể, tiểu chủ và Kinh tế tƣ bản tƣ nhân). - Kinh tế cá thể, tiểu chủ: Kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tƣ hữu nhỏ về tƣ liệu sản xuất.

Sự khác nhau giữa kinh tế cá thể và kinh tế tiểu chủ ở chỗ: trong kinh tế cá thể nguồn thu nhập hoàn toàn dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình, còn trong kinh tế tiểu chủ, tuy nguồn thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình, nhƣng có thuê lao động. - Kinh tế tƣ bản tƣ nhân: Kinh tế tƣ bản tƣ nhân dựa trên hình thức sở hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa về tƣ liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong thời kỳ quá độ ở nƣớc ta, thành phần này còn có vai trò đáng kể để phát 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển lực lƣợng sản xuất, xã hội hóa sản xuất, khai thác các nguồn vốn, giải quyết việc làm và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội khác. Kinh tế tƣ bản tƣ nhân rất năng động, nhạy bén với kinh tế thị trƣờng, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc, tuy nhiên, kinh tế tƣ bản tƣ nhân có tính tự phát rất cao.

Khu vực KTTN tại Việt Nam đã trải qua nhiều biến động trong suốt hai thập niên qua. Kể từ khi Nhà nƣớc từ bỏ vai trò độc quyền hoạt động kinh tế và công nhận thành phần KTTN, khu vực này không ngừng lớn mạnh và chính sách mở cửa mậu dịch đã trở thành nhân tố chính dẫn đến sự phát triển khá mau lẹ của nền kinh tế Việt Nam. Quan điểm hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ở Hội nghị Trung ƣơng 5 khoá IX (3 – 2002) về phát triển KTTN: - KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển KTTN là vấn đề chiến lƣợc lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hƣớng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nƣớc trong hội nhập kinh tế quốc tế.

- Nhà nƣớc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân; khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và định hƣớng, quản lý sự phát triển của KTTN theo pháp luật, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Các hộ kinh doanh cá thể đƣợc Nhà nƣớc tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển ở cả nông thôn và thành thị; khuyến khích các hộ liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Tạo môi trƣờng kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý và tâm lý xã hội để các doanh nghiệp của tƣ nhân phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, không hạn chế về quy 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mô, nhất là trên những định hƣớng ƣu tiên của Nhà nƣớc; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho ngƣời lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế Nhà nƣớc. - Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cả ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động.

Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động trên cơ sở pháp luật và tinh thần đoàn kết, tƣơng thân tƣơng ái. Chăm lo bồi dƣỡng, giáo dục các chủ doanh nghiệp nâng cao lòng yêu nƣớc, tự hào dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nƣớc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. - Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Nhà nƣớc, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp đối với KTTN nói chung cũng nhƣ trong từng doanh nghiệp[10]. Các loại hình doanh nghiệp trong khu vực KTTN Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo qui định pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo qui định pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh.

Các doanh nghiệp trong khu vực KTTN gồm: Doanh nghiệp tƣ nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, cụ thể: Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tƣ nhân là một cá nhân. Chủ doanh nghiệp tƣ nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tƣ nhân có toàn quyền quyết định việc sử dụng thu nhập thuần (sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp).

Chủ doanh nghiệp tƣ nhân có thể trực tiếp hoặc thuê ngƣời khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trƣờng hợp thuê ngƣời khác làm giám 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đốc quản lý doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tƣ nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [20, tr 65]. Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tƣ nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tƣ nhân tạo sự tin tƣởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật nhƣ loại hình doanh nghiệp khác.

Tuy nhiên, do không có tƣ cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao, chủ doanh nghiệp tƣ nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của cả chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tƣ vào doanh nghiệp. Từ đặc điểm trên, chúng ta có thể nhận thấy doanh nghiệp tƣ nhân sẽ là loại hình doanh nghiệp ít đƣợc lựa chọn trong thời gian đến do những hạn chế và tính rủi ro của nó không đáp ứng đƣợc xu hƣớng thay đổi của nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế. Công ty trách nhiệm hữu hạn (Công ty TNHH): là doanh nghiệp trong đó các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty TNHH có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng thành viên tối thiểu là một (hai) và tối đa không vƣợt quá năm mƣơi.

Công ty TNHH có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty TNHH không đƣợc quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn [20, tr14]. Công ty TNHH có 02 thành viên trở lên phải có hội đồng thành viên, chủ tịch thành viên, giám đốc. Công ty TNHH có trên 11 thành viên phải có ban kiểm soát.

Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay. Hoạt động kinh doanh dƣới hình thức công ty TNHH đem lại cho nhà đầu tƣ nhiều lợi thế nhƣ: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Do có tƣ cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động công ty trong phạm vi vốn góp vào công ty nên ít rủi ro cho ngƣời góp vốn; Số lƣợng thành viên công ty TNHH không nhiều và các thành viên thƣờng quen biết, tin cậy lẫn nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp. Chế độ chuyển nhƣợng vốn đƣợc điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tƣ dễ dàng kiểm soát đƣợc việc thay đổi các thành viên, hạn chế việc xâm nhập của ngƣời lạ vào công ty. Tuy nhiên, hình thức công ty TNHH cũng có những hạn chế nhất định: Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trƣớc đối tác, bạn hàng cũng phần nào ảnh hƣởng; Công ty TNHH chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tƣ nhân hay công ty hợp danh; Việc huy động vốn của công ty TNHH bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu Công ty cổ phần: là doanh nghiệp, trong đó : Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.

Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các khoản nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp cổ đông sở hữu cổ phần biểu quyết. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lƣợng tối đa [20, tr36]. Công ty cổ phần có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo qui định của pháp luật về chứng khoán. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ