phần mở đầu, kết luận, phụ lục tham khảo, danh mục viết tắt, bảng biểu, nội dung chính của luận văn bao gồm 4 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển Kinh tế tư nhân; Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng phát triển Kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; Chƣơng 4: Một số định hướng và giải pháp phát triển khu vực Kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 1. Cơ sở lý luận về phát triển Kinh tế tƣ nhân 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Kinh tế tư nhân 1.
Khái niệm về Kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân (KTTN): là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và tương ứng với phương thức quản lý, phân phối phù hợp với hình thức sở hữu đó. Khu vực KTTN là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân. Khu vực KTTN, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, không những là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trên bình diện xã hội chính trị, góp phần hình thành một xã hội công dân, qua đó, người dân có được vị thế kinh tế - xã hội độc lập hơn và có điều kiện phát huy khả năng trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Khu vực KTTN, hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các hoạt động KTTN trong nước (gồm Kinh tế cá thể, tiểu chủ và Kinh tế tư bản tư nhân).
(Vũ Hùng Cường, 2009) - Kinh tế cá thể, tiểu chủ: Kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất. Sự khác nhau giữa kinh tế cá thể và kinh tế tiểu chủ ở chỗ: trong kinh tế cá thể nguồn thu nhập hoàn toàn dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình, còn trong kinh tế tiểu chủ, tuy nguồn thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình, nhưng có thuê lao động. - Kinh tế tư bản tư nhân: Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, thành phần này còn có vai trò đáng kể để phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 5 triển lực lượng sản xuất, xã hội hóa sản xuất, khai thác các nguồn vốn, giải quyết việc làm và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội khác.
Kinh tế tư bản tư nhân rất năng động, nhạy bén với kinh tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước, tuy nhiên, kinh tế tư bản tư nhân có tính tự phát rất cao. Khu vực KTTN tại Việt Nam đã trải qua nhiều biến động trong suốt hai thập niên qua. Kể từ khi Nhà nước từ bỏ vai trò độc quyền hoạt động kinh tế và công nhận thành phần KTTN, khu vực này không ngừng lớn mạnh và chính sách mở cửa mậu dịch đã trở thành nhân tố chính dẫn đến sự phát triển khá mau lẹ của nền kinh tế Việt Nam. Quan điểm hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ở Hội nghị Trung ương 5 khoá IX (3 – 2002) về phát triển KTTN: - KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế. - Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân; khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và định hướng, quản lý sự phát triển của KTTN theo pháp luật, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Các hộ kinh doanh cá thể được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển ở cả nông thôn và thành thị; khuyến khích các hộ liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý và tâm lý xã hội để các doanh nghiệp của tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, không hạn chế về quy mô, nhất là trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước; khuyến khích Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 6 chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế Nhà nước.
- Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở pháp luật và tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục các chủ doanh nghiệp nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. - Tăng cường sự lãnh đạo của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp đối với KTTN nói chung cũng như trong từng doanh nghiệp (Đảng cộng sản Việt nam, 2002).
Các loại hình doanh nghiệp trong khu vực Kinh tế tư nhân Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo qui định pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo qui định pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp trong khu vực KTTN gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, cụ thể: Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định việc sử dụng thu nhập thuần (sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp). Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm giám đốc quản lý doanh nghiêp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Luật doanh nghiệp, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www. Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.
Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bỡi pháp luật như loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rũi ro của doanh nghiệp cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của cả chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp. Từ đặc điểm trên, chúng ta có thể nhận thấy doanh nghiệp tư nhân sẽ là loại hình doanh nghiệp ít được lựa chọn trong thời gian đến do những hạn chế và tính rũi ro của nó không đáp ứng được xu hướng thay đổi của nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế. Công ty trách nhiệm hữu hạn (Công ty TNHH): là doanh nghiệp trong đó các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.
Thành viên của công ty TNHH có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là một (hai) và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn (Luật doanh nghiệp, 2005). Công ty TNHH có 02 thành viên trở lên phải có hội đồng thành viên, chủ tịch thành viên, giám đốc.
Công ty TNHH có trên 11 thành viên phải có ban kiểm soát. Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty TNHH đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 8 Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động công ty trong phạm vi vốn góp vào công ty nên ít rũi ro cho người góp vốn; Số lượng thành viên công ty TNHH không nhiều và các thành viên thường quen biết, tin cậy lẫn nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp. Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế việc xâm nhập của người lạ vào công ty.
Tuy nhiên, hình thức công ty TNHH cũng có những hạn chế nhất định: Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào ảnh hưởng; Công ty TNHH chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh; Việc huy động vốn của công ty TNHH bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu Công ty cổ phần: là doanh nghiệp, trong đó : Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các khoản nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần biểu quyết.