CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRI THỨC 1.1 Khái niệm, và đặc điểm của tri thức 1.1 Các khái niệm tri thức Do quan điểm và thời điểm lịch sử khác nhau, cách tiếp cận khác nhau nên có rất nhiều quan niệm về tri thức, có thể liệt kê một số quan niệm chủ yếu dưới đây: Thứ nhất, quan điểm của K. Marx, trên cơ sở lý thuyết giá trị - lao động, K. Marx đã quan niệm: “tri thức là sản phẩm của lao động, là kết quả của mức độ tích cực của con người với tự nhiên” [2, tr. Theo quan điểm này, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức.
Cùng với tri thức, con người còn có ý chí. Tri thức là sản phẩm của hoạt động lao động xã hội và tư duy của con người, làm tái hiện trong tư tưởng, dưới hình thức ngôn ngữ, những mối liên hệ khách quan, hợp quy luật của thế giới khách quan được cải biến trên thực tế….Điều đó cho thấy chỉ có con người mới là đối tượng được xét đến, chỉ có con người là sinh vật cao cấp có tư duy, có hoạt động lao động. Tri thức phản ánh một cách trung thực thế giới quan xung quanh lên tư duy của con người, đó là sự hiểu biết của con người về thế giới vật chất xung quanh mình. Thứ hai, theo quan điểm của OECD thì: “Tri thức là toàn bộ kết quả của trí lực của loài người sáng tạo ra từ trước đến nay, trong đó tri thức về khoa học, về kỹ thuật, về quản lý là các bộ phận quan trọng nhất” [128].
Quan điểm này hàm ý tri thức là tập hợp, là kho tàng sáng tạo của loài người được lưu giữ lại, phát huy trong suốt lịch sử phát triển của loài người. Tri thức ở các khía cạnh khác nhau đều quan trọng nhưng những tri thức về khoa học, kỹ thuật và quản lý là bộ phận quan trọng nhất, đặc biệt là trong phát triển kinh tế. Thứ ba, Peter Howit thì cho rằng: "Tri thức là khả năng của một cá nhân hay một nhóm thực hiện hoặc chỉ dẫn, xui khiến những người khác thực hiện các quy trình nhằm tạo ra các sự chuyển hóa có thể dự báo được của các vật liệu” [18, tr. Định nghĩa này tiếp cận tri thức theo khía cạnh công nghệ.
Theo cách hiểu này thì tri thức là khả năng hiểu biết của một người hay một nhóm người được mang áp dụng vào sản xuất theo một quy trình nhất định nào đó để chuyển hóa vật liệu đầu vào thành đầu ra theo ý muốn. Khả năng hiểu biết này cũng phải là kết quả vân dụng trí lực của loài người được một người, hay nhóm người tích lũy, tiếp thu, học hỏi và sáng tạo. Theo Ông, tri thức công nghệ nghĩa là sự hiểu biết về tác động của các biến đầu vào đối với đầu ra. -9- Thứ tư, từ những quan niệm trên, Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam đã đưa ra định nghĩa khá đầy đủ về tri thức: “Tri thức là kết quả của các quá trình nhận thức của con người về đối tượng được nhận thức, làm tái hiện trong tư tưởng con người những thuộc tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng và được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên hay hệ thống kí hiệu khác”.
Tiến trình của nhận thức bắt đầu từ các giác quan của con người tiếp nhận các tín hiệu của đối tượng nhận thức (quan hệ vật chất và ý thức), từ đó chúng ta có được dữ liệu (data). Sau khi thu thập dữ liệu, não bộ sẽ xử lý những dữ liệu này và bắt đầu quá trình tư duy nhận thức để biến từ dữ liệu đã xử lý thành thông tin (information), quy luật (law), tri thức (knowledge), trí tuệ (intellect), mức cao hơn nữa là trí khôn (wisdom) xem Hình 1.1 Đối Tín Dữ Thông Tri Trí Trí tượng hiệu liệu tin thức tuệ khôn Hình 1.1 Quá trình nhận thức Dữ liệu là các con số, chữ viết, hình ảnh, tín hiệu âm thanh, hình ảnh…là nguồn gốc, là vật mang tin và cấu thành sản xuất ra thông tin. Tri thức là quá trình biến thông tin là “cái của người” thành “cái của mình” thông qua quá trình thu thập, xử lý để nhận thức. Nó bao gồm tất cả những hiểu biết của con người và tồn tại dưới nhiều hình thức : biết, biết cái gì, biết như thế nào và biết làm thế nào.
Tóm lại, trên cơ sở những khái niệm không hẳn là giống nhau ở trên, ta có thể thấy được những điểm chung và đưa ra khái niệm tri thức sử dụng trong luận án này là: Tri thức là toàn bộ những sự hiểu biết của loài người được hình thành trong lịch sử phát triển của mình thông qua kinh nghiệm hay thông qua quá trình học hỏi. Khái niệm này cho thấy tri thức là khối lượng thông tin tích lũy trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, sự hiểu biết này có được là cả quá trình tích lũy kinh nghiệm, học hỏi và sáng tạo, sau khi đã thu thập và được xử lý, đồng hóa, đưa vào trở thành sự hiểu biết của con người. Tri thức thông thường được hình thành do hoạt động hàng ngày của mỗi cá nhân và mang tính chất cảm tính trực tiếp, bề ngoài và rời rạc. Tri thức khoa học phản ánh trình độ cao hơn của con người đi sâu nhận thức đối tượng nhằm vạch ra bản chất của đối tượng.
Tri thức khoa học được chia thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận. Tri thức kinh nghiệm do quan sát, mô tả, thực nghiệm mang lại. Tri thức lý luận là kết quả của sự khái quát hoá những tri thức kinh nghiệm (những tài liệu kinh nghiệm, kết quả thực nghiệm) để xây dựng các hệ thống lý luận phản ánh những mối liên hệ tất yếu, cơ bản của sự vật, hiện tượng hay lớp sự vật, hiện tượng. - 10 - Cần lưu ý rằng, tri thức cần cho một xã hội là tri thức có phạm vi và ý nghĩa rộng hơn rất nhiều so với tri thức về kỹ thuật, về công nghệ; nó bao gồm cả tri thức về kinh tế, về chính trị, về văn hoá, về xã hội, về quản lý.
Tri thức của một tổ chức là một khái niệm rất rộng. Tri thức của một tổ chức bao gồm văn hoá, cách thức làm việc, giao tiếp giữa những con người trong tổ chức, tri thức về tìm kiếm thông tin và tri thức mới thu nhận được từ bên ngoài. Tri thức của một tổ chức còn thể hiện ở chỗ họ biết kết hợp thông tin với kinh nghiệm và năng lực để đi đến hành động có hiệu quả ngày càng cao hơn.2 Phân loại tri thức Có nhiều cách phân loại khác nhau về tri thức tùy thuộc vào mục đích, ý đồ, năng lực nhận biết. Thứ nhất, Phân loại theo B.foray: Phân loại theo đối tượng và phương pháp thực hiện, tri thức có các loại : Một là, Tri thức về sự vật : Biết cái gì? (Know - what) Hai là, Tri thức về giới tự nhiên, xã hội và suy nghĩ của con người : Biết tại sao? (Know - Why) Ba là, tri thức về thế giới quan, các quan hệ xã hội để biết ai về cái gì và ai có thể làm được điều gì nhằm tìm ra các nguyên tắc khoa học: Biết ai, người nào đó? (Know - Who) Bốn là, tri thức về các diễn biến của tình hình thị trường và nền kinh tế: Biết nơi chốn, địa điểm và biết thời gian (Know - Where, Know - When) Năm là, tri thức về các kỹ năng, khả năng thực hiện công việc ở mức độ thực hành: Biết cách làm (Know - How).
Hiện nay, người ta thường sử dụng thuật ngữ này để chỉ kỹ năng về quy trình xử lý một hệ thống hay một thiết bị, một phương pháp mới nào đó khi cần chuyển giao công nghệ, gọi là “bí quyết kỹ thuật” hay “chìa khóa trao tay”. Đây là tri thức về công nghệ. Trong các loại tri thức trên, hai loại đầu có thể thu nhận thông qua việc truy cập cơ sở dữ liệu, đọc tài liệu, tham gia các hội nghị hội thảo. Các loại sau thu thập và có được thông qua kinh nghiệm thực tế.
Thứ hai, Phân loại theo R.Bohn : Trong quá trình quá trình nghiên cứu tài sản của doanh nghiệp Ông cho rằng, tri thức được chia thành ba loại : Một là, tri thức về môi trường : Thông tin về thị trường, công nghệ, v.v… Hai là, tri thức về doanh nghiệp : Danh tiếng, nhãn mác, v.v… Ba là, tri thức nội bộ : Văn hóa doanh nghiệp, đạo đức, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, bí quyết của doanh nghiệp, bí quyết của người lao động. - 11 - Thứ ba, Phân loại theo Theo R.Romer : Theo công trình nghiên cứu của hai Ông vào năm 1996, tri thức là tất cả những gì không vật chất, vô hình và có tính chất con người, nó bao gồm : Một là, phần mềm của tri thức (Software): là các tri thức có thể được diễn đạt trong các kho thông tin lưu trữ bên ngoài não người để có thể phổ biến rộng rãi dưới dạng thương mại hóa : sách, báo, thiết bị lưu trữ dùng cho máy tính, báo cáo, tài liệu, hướng dẫn kỹ thuật, v. Hai là, Phần ướt của tri thức (Wetware): là các tri thức chỉ có thể được lưu trữ trong não người, bao gồm : niềm tin, kỹ năng, kỹ xảo, thủ thuật làm việc, v.v… Tóm lại : có không ít cách phân loại tri thức nhưng nhìn chung cách phân loại cho rằng tri thức có hai loại là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học phù hợp với hướng nghiên cứu và mục tiêu đề tài và mang tính đúc kết đó là : Một là, tri thức ngầm : được hình thành trực tiếp trong hoạt động hàng ngày của con người, là phần tiềm ẩn, phần ướt của tri thức, là tri thức không bộc lộ chứa trong đầu con người. Trong quá trình chuyển giao từ người có tri thức sang người cần tri thức, thì tri thức ngầm cần được điển chế hóa để chuyển nó thành tri thức hiện.
Trong quá trình điển chế hóa tri thức thì một phần tri thức ngầm vẫn còn lại. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ Thông tin và truyền thông mà tri thức điển chế hóa đã trở lên dễ có hơn và cũng rẻ hơn. Trong việc lựa chọn và khai thác tri thức để phát triển kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh quốc gia thì tri thức ngầm có vai trò cực kỳ quan trọng.