Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI 1. Cơ sở lí luận về kinh tế trang trại 1. Khái quát chung về trang trại và kinh tế trang trại 1. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại * Khái niệm về trang trại: Theo Mác, trong sản xuất nông nghiệp, vai trò hết sức quan trọng của trang trại là mang lại hiệu quả kinh tế cao: “Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn, mà là các trang trại gia đình sử dụng lao động làm thuê”.
[14] Trang trại là cơ sở, là doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp của một, một nhóm nhà kinh doanh. [22] Còn rất nhiều tác giả ở các góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, nhưng tựu chung vẫn thống nhất cho rằng, trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá ở mức cao hơn kinh tế hộ về cả quy mô, lẫn hình thức quản lý. Hơn nữa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác ở các hộ gia đình thì mục đích chủ yếu là tự sản tự tiêu, nhưng mục đích của người chủ trang trại lại chủ yếu là sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường, có quan hệ chặt chẽ và phản ứng nhanh nhạy với thị trường. Còn một phần nhỏ sản phẩm làm ra phục vụ ngược trở lại cho sản xuất và tiêu dùng.
Trang trại là HTTCLTNN hình thành từ sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp trong quá trình CNH. Hình thức này có nguồn gốc từ hộ gia đình nhưng phát triển với mức độ cao hơn gia đình, chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Quá trình CNH đã tạo yêu cầu khách quan cho việc sản xuất các nông sản hàng hoá, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của các trang trại. Sự hình thành và phát triển của các trang trại là kết quả tất yếu của hộ gia đình gắn với sản xuất hàng hóa trong đó có sự tập trung của các yếu tố sản xuất kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn18 Header Page 19 of 125.
10 doanh (đất đai lao động, tư liệu sản xuất, KHKT…) để nâng cao năng lực sản xuất và sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa với năng xuất, chất lượng và hiệu quả cao. Trang trại là hình thức tiến bộ của sản xuất nông nghiệp thế giới, nó hình thành và phát triển chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và tuân theo quy luật cung cầu, chấp nhận sự cạnh tranh trên thị trường. * Khái niệm về kinh tế trang trại: KTTT là một khái niệm rộng không còn mới với các nước kinh tế phát triển và nhiều nước đang phát triển. Song đối với nước ta đây đang còn là vấn đề mới mẻ, do nước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên chưa nhận thức đầy đủ về KTTT.
Cũng như Trang trại, ở mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau mà các nhà khoa học lại đưa ra những khái niệm khác nhau về KTTT. “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, trồng rừng, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ, hải sản” [13] “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội. Dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội bao gồm một số người lao động nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường và được nhà nước bảo hộ. [21] Từ các quan điểm trên chúng ta có thể hiểu khái niệm KTTT như sau: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong nông - lâm - ngư nghiệp dựa trên nền tảng là kinh tế hộ, với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với tư cách tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kĩ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường.
Tiêu chí xác định trang trại Để xác định một tiêu chí sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông nghiệp có phải là trang trại hay không thì phải có tiêu chí để nhận dạng trang trại cần phải hàm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn19 Header Page 20 of 125. 11 chứa được đặc trưng cơ bản của trang trại. Theo Thông tư số 74/2003/TT-BNN, ngày 04/7/2003 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn; về việc thay thế Thông tư liên tịch số 62/2003/TTLT/BNN-TCTK. Qua đó đưa ra tiêu chí để xác định kinh tế trang trại như sau:[26] * Về mặt định tính, tiêu chí trang trại biểu hiện đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất nông sản hàng hoá.
* Về mặt định lượng, một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá; dịch vụ bình quân một năm, hoặc quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. - Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân 1 năm: + Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên. + Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên. - Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.
+ Đối với trang trại trồng trọt. Trang trại trồng cây hàng năm. Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung. Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
Trang trại trồng cây lâu năm. Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung. Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên. Trang trại trồng hồ tiêu từ 5 ha trở lên.
Trang trại lâm nghiệp: từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước. + Đối với trang trại chăn nuôi. Chăn nuôi gia súc lớn: trâu, bò. Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 50 con trở lên.
Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn20 Header Page 21 of 125. 12 Chăn nuôi gia súc nhỏ: lợn, dê. Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên.
Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên, dê thịt từ 200 con trở lên. Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng. Có thường xuyên từ 2.000 con trở lên. + Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản.
Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên). + Đối với các loại sản phẩm nông - lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính chất đặc thù như : trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thủy đặc sản thì tiêu chí xác định là sản lượng hàng hóa. Tuy nhiên, gần đây nhất Bộ NN và PTNT đã đưa ra thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 4/7/2003 về sửa đổi, bổ xung mục III của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN - TCTK ngày 23/6/2000 hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTT và thay thế Thông tư liên tịch số 62/2000/ TTLT/BNN-TCTK ngày 20/5/2003 của Bộ NN và PTNT và Tổng cục Thống kê như sau: * Tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại - Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá dịch vụ bình quân 1 năm, hoặc về quy mô sản xuất của trang trại được quy định của thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK. - Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm.
Thực hiện theo quy định của Thông tư 69/2000/TTLT/BNN - TCTK ngày 23/6/2000 [26] - Từ năm 2011, việc xác định tiêu chí trang trại thực hiện theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại. Theo đó, các cơ sở sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:[27] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn21 Header Page 22 of 125. Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp đồng thời phải đạt: - Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; 2,1 ha đối với vùng còn lại. - Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm.
Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỷ đồng/năm trở lên. Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên. Phân loại trang trại - Theo các hình thức tổ chức quản lý: + Trang trại gia đình: Là loại hình phổ biến nhất trên thế giới. Đây là kiểu trang trại độc lập sản xuất kinh doanh do một gia đình thành lập, và điều hành quản lý.
+ Trang trại liên doanh: Là trang trại có từ hai hay nhiều gia đình cùng nhau thành lập và điều hành quản lý, có sức cạnh tranh với các trang trại lớn. + Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Là trang trại kết hợp hai hay nhiều loại hình sản xuất kinh doanh và cùng nhau góp vốn theo hình thức cổ phần hóa. + Trang trại uỷ thác: Là loại hình trang trại mà người sáng lập, thành lập nên ủy quyền cho một hay một nhóm người nào đó điều hành quản lý.