Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tại Việt Nam, sự chuyển biến từ kinh tế hộ gia đình sang mô hình kinh tế trang trại là một bước phát triển tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường. Đồng Nai là địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, sở hữu nhiều điều kiện tự nhiên màu mỡ và vị trí địa lý thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Tuy nhiên, việc phát triển các mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh vẫn đối mặt với những bất cập về quy hoạch, kết cấu hạ tầng, vốn, thị trường và năng lực quản lý. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận kết hợp với phân tích thực tiễn là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp bền vững.
Khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Đồng Nai" được sinh viên Hoàng Đắc Bằng thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Thị Xuân Thọ tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (bảo vệ tháng 5/2004).
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm hai nội dung trọng tâm:
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Đồng Nai.
- Đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển của mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đạt hiệu quả kinh tế cao.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới và ở Việt Nam.
- Xác định rõ khái niệm, bản chất, đặc trưng, tiêu thức nhận dạng, vai trò và quan điểm phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Đồng Nai.
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Đồng Nai trên các phương diện tự nhiên, kinh tế - xã hội, quy mô đất đai, nguồn vốn, lao động, thiết bị máy móc và thị trường tiêu thụ.
- Đề ra hệ thống giải pháp, định hướng để phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Đồng Nai giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình kinh tế trang trại, bao gồm các điều kiện hình thành, các yếu tố nguồn lực sản xuất (đất đai, lao động, vốn, thiết bị), cơ cấu loại hình, sự phân bố không gian và kết quả sản xuất kinh doanh.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ tỉnh Đồng Nai (gồm thành phố Biên Hòa và 8 huyện: Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất, Long Khánh, Xuân Lộc, Long Thành, Nhơn Trạch).
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu quá trình phát triển của các trang trại được điều tra từ năm 1995 đến năm 2000 và cập nhật số liệu phát triển đến hết ngày 31/12/2003.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt lý luận, tác giả tổng hợp và phân tích các quan niệm về kinh tế trang trại của nhiều nhà nghiên cứu như TS. Trương Thị Minh Sâm, Trần Trác, Hoàng Việt cùng nhóm tác giả Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Từ đó, luận văn khái quát: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh trong nông nghiệp, được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình, có mức độ tích tụ và tập trung cao hơn về đất đai, vốn, lao động, kỹ thuật nhằm tạo ra khối lượng nông sản hàng hóa lớn hơn với lợi nhuận cao hơn theo yêu cầu của kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước.
Luận văn căn cứ vào hệ thống chủ trương, chính sách và cơ sở pháp lý của Đảng và Nhà nước Việt Nam:
- Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động.
- Nghị quyết 10-NQ/TW tháng 01/1988 của Bộ Chính trị khóa VI về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.
- Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 10/06/1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII và Luật Đất đai năm 1993.
- Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị khóa VIII về nông nghiệp và nông thôn.
- Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về Kinh tế trang trại.
- Thông tư liên tịch số 69/2000/TT-LT/BNN-TCTK của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Tổng cục Thống kê hướng dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại.
| Nhóm ngành sản xuất |
Tiêu chí quy mô sản lượng / Diện tích / Đàn vật nuôi (Khu vực phía Nam & Tây Nguyên) |
| Giá trị sản lượng hàng hóa |
Doanh thu dịch vụ và sản phẩm bình quân đạt từ 50 triệu đồng/năm trở lên |
| Trồng cây hàng năm |
Diện tích canh tác từ 3,0 ha trở lên |
| Trồng cây lâu năm |
Diện tích canh tác từ 5,0 ha trở lên (riêng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên) |
| Lâm nghiệp |
Diện tích đất lâm nghiệp từ 10,0 ha trở lên |
| Chăn nuôi đại gia súc |
Bò sữa/sinh sản thường xuyên từ 10 con trở lên; bò thịt từ 50 con trở lên |
| Chăn nuôi gia súc khác |
Lợn nái từ 20 con trở lên; lợn thịt từ 100 con trở lên; dê/cừu từ 100 con trở lên |
| Chăn nuôi gia cầm |
Đàn gà, vịt, ngan, ngỗng thường xuyên từ 2.000 con trở lên |
| Nuôi trồng thủy sản |
Diện tích mặt nước từ 2,0 ha trở lên (riêng nuôi tôm công nghiệp từ 1,0 ha trở lên) |
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành địa lý kinh tế:
- Quan điểm tiếp cận: Quan điểm tổng hợp tương hỗ giữa tự nhiên và kinh tế - xã hội; Quan điểm hệ thống xem kinh tế trang trại là một bộ phận gắn kết với các ngành kinh tế quốc dân; Quan điểm lịch sử viễn cảnh đánh giá tiến trình phát triển để dự báo tương lai.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các chỉ số kinh tế từ các cơ quan ban ngành.
- Phương pháp biểu đồ - bản đồ: Phương pháp đặc trưng của Địa lí học để trực quan hóa sự phân bố lãnh thổ và cơ cấu loại hình trang trại.
- Phương pháp thực địa: Khảo sát trực tiếp tại các huyện, xã nhằm đối chiếu số liệu thống kê với hiện trạng thực tế.
- Phương pháp dự báo: Xây dựng định hướng phát triển dựa trên quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong văn bản được trích xuất từ Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Nai (số liệu tháng 4/2004), Sở Địa chính tỉnh Đồng Nai, Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, Báo cáo Tổng điều tra dân số năm 1999, cùng các công trình nghiên cứu và tài liệu của các viện, trường đại học.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I: Cơ sở lí luận
Chương I làm rõ bản chất kinh tế trang trại thông qua các đặc trưng cơ bản: sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với nhu cầu thị trường; tính linh hoạt trong việc dung nạp các cấp độ công nghệ, quy mô diện tích và hình thức liên kết sản xuất; năng lực quản lý của chủ trang trại. Luận văn phân loại trang trại theo hình thức sở hữu (trang trại gia đình, trang trại hợp tác liên doanh), theo phương thức sản xuất (chuyên môn hóa, đa canh VAC/VACR, kinh doanh tổng hợp), và theo sản phẩm nông nghiệp (trồng rừng, cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản).
Khi phân tích lịch sử thế giới, tác giả chỉ ra rằng kinh tế trang trại xuất hiện từ cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và cách mạng công nghiệp ở Tây Âu, thay thế chế độ điển trang, thái ấp phong kiến. Tại Mỹ, kinh tế trang trại phát triển mạnh từ cuối thế kỷ XIX; đến năm 1935 đã có 6,8 triệu trang trại, cung ứng 41% dự trữ lúa mì và 87% dự trữ ngô toàn cầu. Tại Hà Lan, 11.500 trang trại hoa giúp chiếm lĩnh 60% thị trường hoa thế giới. Tại Malaysia, năm 1992 có 400.000 trang trại gia đình sản xuất hơn 6 triệu tấn dầu cọ (chiếm 53% sản lượng dầu cọ và 60% sản lượng cao su thế giới). Tác giả đúc kết 5 điều kiện tiên quyết để hình thành kinh tế trang trại: kinh tế thị trường phát triển; khả năng tích tụ vốn; lực lượng sản xuất tiến bộ; hàng hóa sức lao động được tự do di chuyển; đất đai được phép tích tụ ở mức độ nhất định.
Tại Việt Nam, tiến trình phát triển trải qua các giai đoạn:
- Thời phong kiến: Hình thức điền trang, thái ấp mang tính tự cấp tự túc, chưa có sản xuất hàng hóa.
- Thời Pháp thuộc (1859 - 1943): Thực dân Pháp lập 3.928 đồn điền trên diện tích hơn 1.000.000 ha đất nông nghiệp để khai thác lúa, cao su, chè, cà phê.
- Thời kỳ 1975 - 1986: Thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, quốc hữu hóa đồn điền thành nông trường quốc doanh và tập thể hóa ruộng đất vào hợp tác xã; kinh tế trang trại gia đình hầu như bị xóa bỏ.
- Thời kỳ Đổi mới (từ 1986 đến 2001): Nhờ giao quyền tự chủ cho hộ gia đình và ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, đến ngày 01/10/2001 cả nước đã có 60.758 trang trại, tập trung trên 80% tại Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên; tỷ suất hàng hóa bình quân toàn quốc đạt 91,8% (Đông Nam Bộ đạt 95,3%).
CHƯƠNG II: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Đồng Nai
Chương II đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng hoạt động của các trang trại tại Đồng Nai.
1. Các nhân tố ảnh hưởng:
- Tự nhiên: Tỉnh có diện tích tự nhiên 5.895 km² (chiếm 25,5% diện tích Đông Nam Bộ). Địa hình chuyển tiếp trung du, có 82% diện tích đất có độ dốc nhỏ hơn 8°. Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhiệt độ trung bình 25°C - 26°C, lượng mưa 1.500 - 2.000 mm/năm. Đất tự nhiên có 589.500 ha gồm 10 nhóm đất: đất xám (40,05%), đất đen (22,44%), đất đỏ bazan (19,27%). Đất lâm nghiệp có 178.643 ha. Hệ thống thủy văn gồm sông Đồng Nai, sông La Ngà và hồ Trị An (diện tích 32.300 ha, dung tích gần 2,8 tỷ m³ nước).
- Kinh tế - xã hội: Dân số năm 2000 đạt 2.166.000 người, lực lượng trong độ tuổi lao động là 1.579.000 người (chiếm 59,57%). Hạ tầng giao thông hoàn chỉnh gồm 244,5 km quốc lộ (QL 1A, QL 20, QL 51, QL 56), 87,5 km đường sắt Bắc - Nam, 480 km mạng lưới đường sông. Lưới điện quốc gia phủ 163/163 xã, phường. Mạng lưới chế biến gồm 12 doanh nghiệp chế biến thức ăn gia súc (công suất 1 triệu tấn/năm), 2 nhà máy đường (công suất 3.000 tấn mía cây/ngày; đường Biên Hòa đạt 90.000 tấn tinh luyện/năm), cùng các nhà máy chế biến thuốc lá (10.000 tấn/năm), bông xơ (3.500 tấn/năm), cà phê hòa tan (1.000 tấn/năm), nhân hạt điều (4.000 tấn/năm).
2. Quy mô, phân bố và cơ cấu loại hình trang trại:
Từ 889 trang trại năm 1995, số lượng trang trại tăng lên 2.228 trang trại năm 2000 và đạt 3.117 trang trại vào ngày 31/12/2003. Năm 2000 có tốc độ thành lập cao nhất với 469 trang trại (chiếm 15,04%).
| Đơn vị hành chính |
Số lượng trang trại |
Tỷ lệ (%) |
| Huyện Thống Nhất |
754 |
24,18 |
| Huyện Xuân Lộc |
613 |
19,66 |
| Huyện Định Quán |
439 |
14,08 |
| Thành phố Biên Hòa |
362 |
11,60 |
| Huyện Tân Phú |
226 |
7,25 |
| Huyện Nhơn Trạch |
206 |
6,60 |
| Huyện Long Khánh |
201 |
6,44 |
| Huyện Long Thành |
168 |
5,38 |
| Huyện Vĩnh Cửu |
148 |
4,74 |
| Tổng cộng |
3.117 |
100,00 |
Nguồn: Tổng hợp từ Bảng 2 của luận văn (Số liệu Sở Nông nghiệp & PTNT Đồng Nai, 04/2004)
Bốn địa phương tập trung số lượng trang trại lớn nhất là Thống Nhất, Xuân Lộc, Định Quán và TP. Biên Hòa, chiếm 69,52% tổng số trang trại toàn tỉnh nhờ ưu thế về quỹ đất bazan màu mỡ, truyền thống canh tác hoặc gần thị trường tiêu thụ đô thị.
| Loại hình trang trại |
Số lượng trang trại |
Tỷ lệ cơ cấu (%) |
| Trang trại chăn nuôi |
1.290 |
41,40 |
| Trang trại trồng cây lâu năm |
1.168 |
37,47 |
| Trang trại nuôi trồng thủy sản |
245 |
7,86 |
| Trang trại tổng hợp |
221 |
7,09 |
| Trang trại trồng cây hàng năm |
182 |
5,84 |
| Trang trại lâm nghiệp |
11 |
0,35 |
| Tổng cộng |
3.117 |
100,00 |
Nguồn: Tổng hợp từ Bảng 3 của luận văn (Số liệu Sở Nông nghiệp & PTNT Đồng Nai, 04/2004)
Trang trại chăn nuôi và cây lâu năm chiếm tỷ trọng áp đảo (78,87%). Trong đó, trang trại chăn nuôi tập trung nhiều nhất tại Thống Nhất (471 trang trại, chiếm 36,51% số trang trại chăn nuôi) và TP. Biên Hòa (348 trang trại, chiếm 26,70%). Trang trại lâm nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,35%) do chu kỳ thu hồi vốn dài và quản lý phức tạp.
3. Khó khăn, hạn chế được tác giả chỉ ra:
- Hạ tầng giao thông nông thôn liên huyện, liên xã rải nhựa mới đạt bình quân 0,23 km/km².
- Công nghiệp chế biến nông sản phát triển chưa đồng bộ, thiếu gắn kết giữa khâu sản xuất chăn nuôi và chế biến thịt.
- Nguồn vốn tự có chiếm tỷ trọng lớn (85%), khả năng tiếp cận vốn ngân hàng thấp (chỉ 8%).
- Thiếu các chính sách bảo hiểm và bảo hộ giá nông sản, khiến người sản xuất gặp rủi ro trước biến động thị trường.
CHƯƠNG III: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại tỉnh Đồng Nai
Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 - 2010, tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Giải pháp về đất đai: Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho các chủ trang trại; tạo khung pháp lý cho việc chuyển nhượng, tích tụ ruộng đất và quy hoạch mở rộng hạn điền phù hợp từng loại cây trồng, vật nuôi.
- Giải pháp về vốn đầu tư: Đơn giản hóa thủ tục vay vốn ngân hàng, nới lỏng điều kiện thế chấp bằng tài sản hình thành trên đất trang trại; mở rộng các gói tín dụng trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi.
- Giải pháp về khoa học kỹ thuật: Chuyển giao các bộ giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, phẩm chất tốt; khuyến khích áp dụng công nghệ sinh học và cơ giới hóa các khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản.
- Giải pháp về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật: Đầu tư nâng cấp mạng lưới giao thông liên xã, hoàn thiện hệ thống kênh mương tưới tiêu và lưới điện phục vụ sản xuất trang trại tập trung.
- Giải pháp về công tác khuyến nông: Tăng cường mở các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác, phòng chống dịch bệnh; bồi dưỡng kiến thức quản trị kinh doanh, hạch toán kinh tế cho các chủ trang trại.
- Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm: Xây dựng hệ thống thông tin thị trường nông sản; khuyến khích ký kết hợp đồng tiêu thụ trực tiếp giữa trang trại với các nhà máy chế biến và doanh nghiệp xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng thương hiệu nông sản.
- Giải pháp về chính sách quản lý của Nhà nước: Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước ở cấp huyện, xã đối với kinh tế trang trại; thực hiện chính sách miễn giảm thuế hợp lý, bảo đảm an ninh trật tự nông thôn và thành lập các tổ chức hội/hợp tác xã hỗ trợ chủ trang trại.
Kết quả và đóng góp
Luận văn mang lại những kết quả và đóng góp cụ thể về mặt tư liệu học thuật:
- Hệ thống hóa lý luận: Tổng hợp có hệ thống các khái niệm, đặc trưng, bài học quốc tế và khung pháp lý trong nước về kinh tế trang trại, đặc biệt là việc làm rõ tiêu chí định lượng nhận dạng trang trại theo Thông tư liên tịch 69/2000/TT-LT.
- Phản ánh chính xác thực trạng: Cung cấp bộ số liệu thống kê chi tiết về quá trình tăng trưởng số lượng trang trại tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1995 - 2003 (tăng từ 889 lên 3.117 trang trại).
- Phân tích cơ cấu và không gian địa lý: Phân loại rõ nét 6 mô hình trang trại, chỉ ra vai trò chủ đạo của trang trại chăn nuôi (41,40%) và trang trại cây lâu năm (37,47%); xác lập không gian phân bố tập trung tại 4 địa bàn trọng điểm (Thống Nhất, Xuân Lộc, Định Quán, Biên Hòa) chiếm tới 69,52% tổng số trang trại toàn tỉnh.
- Đề xuất giải pháp khả thi: Xây dựng 7 nhóm giải pháp gắn với thực tiễn các điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất đai và kết cấu hạ tầng chế biến của tỉnh Đồng Nai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn dữ liệu thống kê chuyên sâu về các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật (vốn, doanh thu, thu nhập bình quân) trong luận văn chủ yếu dựa trên các cuộc điều tra giai đoạn 2000 - 2003 của Sở Nông nghiệp & PTNT; tác giả tự nhận định còn hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu thực địa và nguồn tài liệu ban đầu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá biến động kinh tế trang trại sau khi Luật Đất đai năm 2003 đi vào thực tế; đi sâu phân tích chuỗi giá trị và hiệu quả tài chính chi tiết của từng mô hình trang trại chăn nuôi công nghiệp và trang trại cây ăn quả chuyên canh trên địa bàn tỉnh.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Địa lí học (chuyên ngành Địa lí Kinh tế - Xã hội), ngành Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm tài liệu tham khảo về phương pháp nghiên cứu địa lý kinh tế địa phương.
- Cán bộ quản lý tại các Sở Nông nghiệp & PTNT, Phòng Nông nghiệp cấp huyện tại Đồng Nai và khu vực Đông Nam Bộ trong việc nghiên cứu phân bố không gian và thực trạng phát triển kinh tế trang trại.
- Các phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống hóa điều kiện tự nhiên - tài nguyên đất đai phục vụ nông nghiệp (Chương II) và phương pháp xây dựng bảng biểu, bản đồ phân bố các loại hình trang trại theo đơn vị hành chính.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo khóa luận, tiêu chí định lượng xác định trang trại ở các tỉnh phía Nam theo Thông tư liên tịch 69/2000/TT-LT gồm những chỉ số cơ bản nào?
Tiêu chí yêu cầu giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm đạt từ 50 triệu đồng trở lên. Về quy mô: trang trại trồng cây hàng năm từ 3 ha trở lên; cây lâu năm từ 5 ha trở lên (hồ tiêu từ 0,5 ha); lâm nghiệp từ 10 ha; chăn nuôi bò sữa/sinh sản từ 10 con, bò thịt từ 50 con; lợn nái từ 20 con, lợn thịt từ 100 con; gia cầm từ 2.000 con; nuôi trồng thủy sản từ 2 ha trở lên (riêng tôm công nghiệp từ 1 ha).
2. Số lượng kinh tế trang trại tại tỉnh Đồng Nai biến động như thế nào trong giai đoạn 1995 - 2003?
Năm 1995 toàn tỉnh có 889 trang trại. Đến năm 2000 tăng lên 2.228 trang trại (riêng năm 2000 thành lập mới 469 trang trại, chiếm 15,04%). Đến ngày 31/12/2003, tổng số trang trại của tỉnh Đồng Nai đạt 3.117 trang trại.
3. Hai loại hình trang trại nào chiếm tỷ trọng lớn nhất tại tỉnh Đồng Nai năm 2003?
Hai loại hình chiếm ưu thế tuyệt đối là trang trại chăn nuôi với 1.290 trang trại (chiếm 41,40%) và trang trại trồng cây lâu năm với 1.168 trang trại (chiếm 37,47%). Tổng cộng hai loại hình này chiếm 78,87% số lượng trang trại toàn tỉnh.
4. Bốn đơn vị hành chính nào của Đồng Nai tập trung số lượng trang trại nhiều nhất và chiếm tỷ lệ bao nhiêu?
Bốn địa phương tập trung nhiều nhất gồm: huyện Thống Nhất (754 trang trại, 24,18%), huyện Xuân Lộc (613 trang trại, 19,66%), huyện Định Quán (439 trang trại, 14,08%) và TP. Biên Hòa (362 trang trại, 11,60%). Tổng số trang trại của 4 địa phương này chiếm 69,52% toàn tỉnh.
5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp nào trong Chương III để phát triển kinh tế trang trại tỉnh Đồng Nai?
Tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp gồm: (1) Đất đai; (2) Vốn đầu tư; (3) Khoa học kỹ thuật; (4) Hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật; (5) Công tác khuyến nông; (6) Thị trường tiêu thụ sản phẩm; (7) Chính sách quản lý của Nhà nước.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Đắc Bằng đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển của mô hình kinh tế trang trại tại tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1995 - 2003. Thông qua việc phân tích hệ thống dữ liệu tự nhiên, kinh tế - xã hội và số liệu điều tra ngành, công trình đã phác họa rõ nét bức tranh phân bố lãnh thổ và cơ cấu loại hình trang trại của tỉnh, với ưu thế thuộc về ngành chăn nuôi và trồng cây lâu năm. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất là cơ sở tham khảo khoa học có giá trị cho công tác quản lý và định hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa tại địa phương.