Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế trang trại đóng vai trò then chốt trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và nâng cao thu nhập cho cư dân vùng cao. Tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, số lượng trang trại đã ghi nhận bước tăng trưởng từ 13 trang trại năm 2016 lên 28 trang trại năm 2019, đóng góp 34,7 tỷ đồng vào tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp năm 2019 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 117,11% giai đoạn 2017-2019. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế trang trại tại địa bàn miền núi này vẫn đối mặt với nhiều rào cản nội tại: quy mô canh tác biến động trong khoảng từ 200,45 ha đến 247,55 ha nhưng còn manh mún, hình thức sản xuất tự phát, sản phẩm bán ra thị trường chủ yếu ở dạng thô và thiếu sự liên kết chuỗi giá trị bền vững.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển kinh tế trang trại giai đoạn 2017-2019 trên địa bàn 11 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Quỳ Châu, nhận diện các yếu tố cản trở và đề xuất hệ thống giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại có tính khả thi đến năm 2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học giúp địa phương giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động nông thôn với mức thu nhập từ 136,80 nghìn đồng đến 152,21 nghìn đồng/người/ngày, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản của huyện giảm từ 40,7% năm 2017 xuống 34,6% năm 2019 theo hướng gia tăng chất lượng và giá trị gia tăng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết kinh tế học nông nghiệp hiện đại kết hợp với các quan điểm phát triển kinh tế nông thôn bền vững. Hai lý thuyết nền tảng được sử dụng xuyên suốt gồm: Lý thuyết tích tụ và tập trung tư liệu sản xuất trong nông nghiệp (nhấn mạnh vai trò mở rộng quy mô đất đai, tư bản nhằm tối ưu hóa chi phí biên) và Lý thuyết chuỗi giá trị nông sản (phân tích sự dịch chuyển giá trị gia tăng từ khâu cung ứng giống, sản xuất đến chế biến, tiêu thụ). Mô hình nghiên cứu thiết lập mối quan hệ tương tác giữa 3 nhóm nhân tố chính: nhóm điều kiện nội tại của trang trại (quy mô đất đai, vốn đầu tư, trình độ chủ trang trại), nhóm môi trường kinh tế - xã hội (cơ sở hạ tầng, chính sách tín dụng, thị trường tiêu thụ) và nhóm điều kiện tự nhiên đặc thù.

Khung phân tích tập trung làm rõ 5 khái niệm cốt lõi:

  1. Tăng trưởng kinh tế nông nghiệp (gia tăng về quy mô sản lượng và giá trị sản xuất);
  2. Phát triển kinh tế trang trại (quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường);
  3. Trang trại gia đình (cơ sở sản xuất hàng hóa quy mô lớn dựa trên lao động và tư liệu sản xuất hộ gia đình);
  4. Tích tụ đất đai nông nghiệp (tập trung quyền sử dụng đất để sản xuất hàng hóa);
  5. Tiêu chí kinh tế trang trại theo định hướng Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP và Thông tư số 02/2020/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong mốc thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2019. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ của Phòng Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Thống kê và UBND huyện Quỳ Châu giai đoạn 2017-2019. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra khảo sát trực tiếp với cỡ mẫu gồm 28 chủ trang trại (chiếm 100% tổng thể trang trại trên toàn địa bàn huyện năm 2019), 18 cán bộ quản lý phụ trách nông nghiệp cấp huyện/xã và 5 đại lý thu mua nông sản tiêu biểu.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng cho đối tượng chủ trang trại nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho không gian nghiên cứu. Các phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu bao gồm: phương pháp thống kê mô tả (tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân) và phương pháp so sánh kinh tế để đánh giá các chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm và thu nhập hỗn hợp. Việc lựa chọn các phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phân tích thực chứng sâu sát về năng lực tài chính, cơ cấu chi phí và hiệu quả sử dụng đất của từng mô hình trang trại trong bối cảnh đặc thù của huyện miền núi Quỳ Châu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu trang trại tại Quỳ Châu có sự thiên lệch lớn về loại hình. Trong tổng số 28 trang trại năm 2019, mô hình trang trại kinh doanh tổng hợp chiếm tỷ trọng áp đảo với 16 trang trại (tương đương 57,14%), tiếp đến là trang trại lâm nghiệp với 8 cơ sở (chiếm 28,57%), trang trại chăn nuôi gia súc có 3 cơ sở (chiếm 10,71%) và trang trại chuyên trồng trọt chỉ có duy nhất 1 cơ sở (chiếm 3,57%).

Thứ hai, kết quả sản xuất kinh doanh có sự chênh lệch rõ rệt theo mô hình hoạt động. Tổng doanh thu bình quân hàng năm của trang trại kinh doanh tổng hợp đạt 1.592,34 triệu đồng/trang trại, cao hơn 23,68% so với doanh thu của trang trại chuyên trồng trọt (đạt 1.287,45 triệu đồng/trang trại).

Thứ ba, hiệu quả sử dụng lao động và ngày công tạo ra sự phân hóa thu nhập. Thu nhập bình quân của lao động tại các trang trại chăn nuôi đạt 152,21 nghìn đồng/người/ngày, cao hơn 11,26% so với mức 136,80 nghìn đồng/người/ngày của lao động tại các trang trại kinh doanh tổng hợp.

Thứ tư, nguồn lực đất đai và khả năng tiếp cận vốn còn nhiều điểm nghẽn. Tổng diện tích đất sản xuất nông lâm nghiệp của các trang trại dao động trong khoảng từ 200,45 ha đến 247,55 ha. Mặc dù hơn 75% số trang trại có tiếp cận vốn vay từ Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT và Quỹ tín dụng nhân dân, song hạn mức vay bình quân vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu mở rộng chu kỳ sản xuất dài hạn do vướng mắc về tài sản thế chấp và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự áp đảo của trang trại tổng hợp (57,14%) xuất phát từ địa hình đồi dốc hiểm trở và chiến lược "lấy ngắn nuôi dài" của các hộ vùng cao nhằm phân tán rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Tuy nhiên, phần lớn các trang trại vẫn bán nông sản dưới dạng thô chưa qua chế biến, khiến giá trị tăng thêm trên một đơn vị sản phẩm rất thấp. Khi đối chiếu với bức tranh chung gồm 374 trang trại tại 10 huyện miền Tây tỉnh Nghệ An (nơi trang trại tổng hợp chiếm tới 66,6%), kết quả nghiên cứu tại Quỳ Châu hoàn toàn tương thích và phản ánh đúng quy luật thích ứng tự nhiên của kinh tế hộ miền núi.

Để phục vụ công tác quản trị và hoạch định chính sách, toàn bộ dữ liệu phân bổ loại hình trang trại có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ tròn cơ cấu (57,14% tổng hợp, 28,57% lâm nghiệp, 10,71% chăn nuôi, 3,57% trồng trọt), kết hợp bảng ma trận so sánh chi phí - doanh thu - thu nhập lao động giữa các nhóm để làm rõ hiệu quả kinh tế cận biên. Kết quả này chỉ ra rằng, nếu không giải quyết đồng bộ nút thắt về cơ sở hạ tầng giao thông và chế biến sâu, kinh tế trang trại Quỳ Châu sẽ khó bứt phá khỏi ngưỡng doanh thu bình quân 1,5 tỷ đồng/năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch và tích tụ đất đai. UBND huyện Quỳ Châu cần rà soát và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 100% diện tích đất trang trại (khoảng 247,55 ha), đồng thời quy hoạch các vùng sản xuất tập trung nhằm tạo điều kiện mở rộng diện tích bình quân mỗi trang trại tăng từ 15% đến 20% trong giai đoạn 2020-2025.

Thứ hai, mở rộng chính sách tín dụng và tháo gỡ rào cản thế chấp. Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT phối hợp với các ngân hàng thương mại trên địa bàn áp dụng linh hoạt Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, triển khai các gói vay trung và dài hạn với mức lãi suất ưu đãi giảm từ 1,5% đến 2,0%/năm, nâng mức cho vay tín chấp hoặc thế chấp bằng tài sản hình thành trên đất trang trại lên mức từ 200 đến 500 triệu đồng/cơ sở trước năm 2023.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuẩn hóa chất lượng. Trạm Khuyến nông và Trạm Thú y huyện Quỳ Châu cần tổ chức định kỳ 12 lớp tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho 100% chủ trang trại, hướng dẫn áp dụng quy trình VietGAP, an toàn sinh học và xử lý chất thải qua hầm biogas, phấn đấu đến năm 2025 có ít nhất 30% số trang trại đạt chứng nhận tiêu chuẩn sản xuất sạch.

Thứ tư, phát triển chuỗi liên kết tiêu thụ và xây dựng thương hiệu OCOP. Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện giữ vai trò cầu nối thu hút tối thiểu 5 doanh nghiệp chế biến nông lâm sản ký hợp đồng bao tiêu dài hạn với các trang trại, đồng thời hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý để đưa từ 3 đến 5 sản phẩm đặc thù của trang trại Quỳ Châu đạt chuẩn OCOP 3 sao trở lên vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách: UBND huyện Quỳ Châu, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Nghệ An có thể sử dụng các số liệu thực chứng về 28 trang trại và hiện trạng 247,55 ha đất để xây dựng quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn và đề án OCOP giai đoạn 2021-2025.
  2. Các chủ trang trại và hộ sản xuất nông nghiệp quy mô lớn: Cung cấp mô hình tham chiếu về cơ cấu chi phí, dòng tiền doanh thu (1.592,34 triệu đồng ở mô hình tổng hợp) và kinh nghiệm tổ chức chăn nuôi, trồng rừng kết hợp để tối ưu hóa nguồn lực hộ gia đình.
  3. Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng: Nắm bắt nhu cầu vốn thực tế và chu kỳ hoàn vốn của từng loại hình trang trại tại vùng cao, từ đó thiết kế các gói sản phẩm tín dụng trung hạn từ 3 đến 5 năm với định mức cho vay phù hợp.
  4. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế: Kế thừa hệ thống chỉ tiêu phân tích giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm, thu nhập hỗn hợp và phương pháp khảo sát tổng thể mẫu nghiên cứu cấp huyện miền núi.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng phát triển kinh tế trang trại tại huyện Quỳ Châu giai đoạn 2017-2019 diễn ra như thế nào?
Số lượng trang trại tăng nhanh từ 13 cơ sở năm 2016 lên 28 cơ sở năm 2019. Giá trị sản xuất ngành trang trại đạt 34,7 tỷ đồng năm 2019 với tốc độ tăng trưởng bình quân 117,11%, giải quyết việc làm ổn định cho hàng trăm lao động với thu nhập từ 136,80 nghìn đồng đến 152,21 nghìn đồng/người/ngày.

Vì sao mô hình trang trại kinh doanh tổng hợp lại chiếm tỷ trọng lớn nhất tại Quỳ Châu?
Trang trại kinh doanh tổng hợp chiếm 57,14% (16/28 trang trại) do đặc thù địa hình đồi dốc và khí hậu khắc nghiệt. Mô hình này giúp chủ trang trại tận dụng tối đa phụ phẩm nông nghiệp, "lấy ngắn nuôi dài", phân tán rủi ro dịch bệnh và mang lại doanh thu bình quân cao nhất, đạt 1.592,34 triệu đồng/năm.

Khó khăn lớn nhất của các trang trại Quỳ Châu trong tiếp cận vốn vay ngân hàng là gì?
Khoảng 75% trang trại tiếp cận được vốn ngân hàng nhưng dư nợ còn thấp do thiếu tài sản thế chấp có giá trị cao. Phần lớn diện tích đất lâm nghiệp trong tổng số 247,55 ha chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đầy đủ, gây cản trở cho việc vay vốn trung và dài hạn.

Hiệu quả kinh tế giữa trang trại trồng trọt và trang trại tổng hợp có sự chênh lệch ra sao?
Trang trại kinh doanh tổng hợp đạt doanh thu bình quân 1.592,34 triệu đồng/năm, vượt trội 23,68% so với mức 1.287,45 triệu đồng/năm của trang trại chuyên trồng trọt. Sự kết hợp giữa lâm nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi giúp đa dạng hóa nguồn thu và tăng vòng quay vốn.

Đâu là định hướng trọng tâm để kinh tế trang trại Quỳ Châu phát triển bền vững đến năm 2025?
Huyện cần tập trung cấp quyền sử dụng đất cho 100% diện tích trang trại, giảm lãi suất cho vay từ 1,5% đến 2,0%/năm, tổ chức 12 lớp tập huấn kỹ thuật mỗi năm và phát triển từ 3 đến 5 sản phẩm đạt chuẩn OCOP thông qua liên kết bao tiêu với 5 doanh nghiệp chế biến.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng 28 trang trại tại Quỳ Châu với giá trị sản xuất năm 2019 đạt 34,7 tỷ đồng và tốc độ tăng trưởng bình quân 117,11% giai đoạn 2017-2019.
  • Xác định mô hình kinh doanh tổng hợp chiếm tỷ trọng chủ đạo 57,14% và mang lại doanh thu cao nhất đạt 1.592,34 triệu đồng/trang trại/năm.
  • Chỉ rõ 3 nhóm rào cản lớn nhất gồm: quỹ đất 247,55 ha chưa được cấp quyền sử dụng đồng bộ, thiếu vốn trung - dài hạn và 100% sản phẩm tiêu thụ thô thiếu chế biến sâu.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về quy hoạch đất đai, ưu đãi tín dụng, chuyển giao kỹ thuật VietGAP và liên kết chuỗi giá trị OCOP định hướng giai đoạn 2020-2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc giúp các nhà quản lý, tổ chức tín dụng và chủ trang trại tại Nghệ An triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản vùng cao. Quý bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác chi tiết toàn bộ số liệu và hệ thống bảng biểu trong toàn văn luận văn thạc sĩ để ứng dụng vào công tác thực tiễn.