Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo phát triển kinh tế ngoại thành từ năm 1991 đến năm 2008", chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62225601), do nghiên cứu sinh Lê Tiến Dũng thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Kim Đỉnh.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng kinh tế ngoại thành giữ vị trí trọng yếu đối với nền kinh tế quốc dân và sự phát triển của Thủ đô, đóng vai trò cung cấp lương thực, thực phẩm thiết yếu, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, cung ứng lao động và là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn. Sau khi Quốc hội khóa VIII điều chỉnh địa giới hành chính vào tháng 8 năm 1991, Hà Nội thu hẹp diện tích nhằm giảm tính chất của một tỉnh nông nghiệp, tập trung nguồn lực phát triển đô thị trung tâm. Tuy nhiên, ngoại thành vẫn chiếm đến 91% diện tích tự nhiên của Thành phố với địa bàn 5 huyện. Bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 15 tháng 12 năm 2000 xác định Thủ đô phải đi đầu và về đích trước trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đến ngày 1 tháng 8 năm 2008, Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII tiếp tục mở rộng địa giới hành chính Thủ đô lên 18 huyện, thị xã. Trước bối cảnh đó, thực tiễn lãnh đạo phát triển kinh tế ngoại thành của Đảng bộ Hà Nội giai đoạn 1991 - 2008 chứa đựng cả thành tựu lẫn hạn chế, đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách hệ thống để đúc kết kinh nghiệm cho các giai đoạn tiếp theo.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo phát triển kinh tế ngoại thành từ năm 1991 đến năm 2008; từ đó rút ra các nhận xét và kinh nghiệm lịch sử phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế ngoại thành trong những giai đoạn sau.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm ba nội dung:
- Phân tích, đánh giá các yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế ngoại thành của Đảng bộ Thành phố Hà Nội.
- Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong phát triển kinh tế ngoại thành trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ từ năm 1991 đến năm 2008.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo phát triển kinh tế ngoại thành của Đảng bộ Thành phố Hà Nội, góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra trong các giai đoạn sau.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế ngoại thành của Đảng bộ Thành phố Hà Nội từ năm 1991 đến năm 2008. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Tập trung vào chủ trương, biện pháp và sự chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế ngoại thành trên ba lĩnh vực: nông nghiệp; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; thương nghiệp, dịch vụ.
- Về không gian: Giới hạn trên địa bàn 5 huyện ngoại thành gồm Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm. Các xã thuộc các huyện này bị tách ra để thành lập các quận mới trong giai đoạn 1995 - 2004 không nằm trong phạm vi đánh giá sau thời điểm tách.
- Về thời gian: Từ năm 1991 (thời điểm Quốc hội khóa VIII phê chuẩn địa giới hành chính Hà Nội và tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ XI) đến ngày 1 tháng 8 năm 2008 (thời điểm Nghị quyết số 15/2008/QH12 có hiệu lực, sáp nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây và một phần các tỉnh Vĩnh Phúc, Hòa Bình vào Hà Nội). Mốc năm 2000 là thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng bộ Thành phố, chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước theo ba nhóm chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu trên bình diện chung về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới. Tiêu biểu có: "Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam" của Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996); "Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Đặng Thọ Xương (1997); "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Lê Đình Thắng (1998); "Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp nước ta" của Nguyễn Văn Trung (1998); "Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam" của Trương Thị Tiến (1999); "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xu hướng phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI của thời đại kinh tế tri thức" của Lê Quốc Sử (2001); "Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam" do Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn biên soạn (2002); "Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Lưu Văn Sùng (2004); "Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam" của Nguyễn Xuân Thảo (2004); luận án tiến sĩ của Lê Quang Phi (2005) về sự lãnh đạo của Đảng trong công nghiệp hóa nông nghiệp từ 1991 đến 2002; "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - con đường và bước đi" do Nguyễn Kế Tuấn chủ biên (2006); "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau" của Đặng Kim Sơn (2008); luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thu Hương (2008); công trình của Phùng Hữu Phú, Nguyễn Viết Thông, Bùi Bằng Hưng (2009); luận án tiến sĩ của Đặng Kim Oanh (2011); ấn phẩm của Nguyễn Ngọc Hà (2012) và Vũ Quang Hiển (2013). Các tài liệu này cung cấp khung quan điểm lý luận của Đảng về kinh tế nông thôn, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành và yêu cầu công nghiệp hóa nông nghiệp.
Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn tại các địa phương cụ thể, gồm: Nguyễn Trung Quế (1995) và Nguyễn Tiến Thuận (2000) về vùng Đồng bằng sông Hồng; Lương Xuân Quỳ (1996) về vùng Bắc Bộ; Nguyễn Việt Hùng (2001) về Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo nông dân ngoại thành (1986 - 1996); Nguyễn Văn Bằng (2002) về Bắc Trung Bộ; Phạm Hùng (2002) về Đông Nam Bộ; Nguyễn Xuân Long (2003) về Khánh Hòa; Mai Thị Thanh Xuân (2003) về Thanh - Nghệ - Tĩnh; Đào Thị Bích Hồng (2011) về Bạc Liêu; Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012) về Nam Định; Nguyễn Thị Tố Uyên (2012) về các tỉnh ủy Đồng bằng sông Hồng; Tống Thị Nga (2015) về Đảng bộ tỉnh Phú Thọ (1997 - 2010); cùng các luận án, luận văn của Nguyễn Văn Vinh (2010) tại Thanh Hóa, Đào Thị Vân (2004) tại Hưng Yên, Hoàng Thị Ánh Nga (2007) tại Hải Dương, Nguyễn Thị Năm (2008) tại Hà Tây.
Nhóm thứ ba là các công trình trực tiếp khảo sát kinh tế ngoại thành Hà Nội. Tiêu biểu gồm: luận án của Hoàng Văn Chính (1993) về kinh tế nông hộ; bài viết của Lương Ngọc Cừ (1995) trên Tạp chí Cộng sản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành theo Chương trình 06-CTr/TU; bài viết của Lương Xuân Quỳ (1999) trên Tạp chí Kinh tế Nông nghiệp; luận án của Trần Huy Sáng (1999) về đội ngũ công chức quản lý kinh tế ngoại thành; nghiên cứu của Nguyễn Đình Chính (2000); công trình của Lê Du Phong (2002) về tác động của đô thị hóa đến ngoại thành; luận án của Nguyễn Tiến Dĩnh (2003) về chính sách kinh tế phát triển ngoại thành; nghiên cứu của Nguyễn Tiệp (2005) về nhân lực ngoại thành; luận án của Trần Thị Hồng Việt (2006) về nông nghiệp sinh thái; Đỗ Thị Tuyết (2011) và Nguyễn Thị Hải Vân (2012) về việc làm và đô thị hóa; Nguyễn Quốc Oánh (2013) về tín dụng nông thôn; các ấn phẩm chuyên khảo về từng huyện Sóc Sơn (Đình Chính, Trần Đình Hằng, Nguyễn Đình Long, 1996; Phạm Văn My, 1998; Trần Đức Hoàn, 2004), Đông Anh (Nguyễn Đức Biền, 2000; Trương Văn Diện, 2003), Thanh Trì (Trần Thị Thu Thủy, 1998; Nguyễn Trọng Khương, 2000; Trần Thị Thanh Nhàn, 2002; Hoàng Văn Cường, 2006), Từ Liêm (Nguyễn Thế Nhã và Võ Văn Minh, 1994; Đỗ Thị Vĩnh, 2000; Đỗ Văn Viện, 2005), Gia Lâm (Trần Thị Tường Vân, 2002; Nguyễn Ngọc Thanh, 2004); các bộ sách Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hà Nội và Đảng bộ các huyện Sóc Sơn, Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Mặc dù các công trình trước đó đã tiếp cận từng khía cạnh kinh tế ngành, chính sách xã hội hoặc phạm vi hẹp ở từng huyện, song chưa có công trình khoa học lịch sử nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội đối với phát triển kinh tế ngoại thành trong toàn bộ giai đoạn 1991 - 2008 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn thời kỳ đổi mới. Luận án quán triệt các văn kiện của Đảng toàn quốc, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và các nghị quyết chuyên đề về kinh tế nông thôn ven đô.
Luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ đạo của khoa học lịch sử:
- Phương pháp lịch sử: Dựng lại bức tranh trung thực, liên tục và cụ thể về quá trình xác định chủ trương, đề ra biện pháp và chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế ngoại thành của Đảng bộ Thành phố Hà Nội theo trình tự thời gian từ năm 1991 đến năm 2008.
- Phương pháp logic: Làm rõ bản chất, quy luật chuyển biến trong nhận thức, chủ trương của Thành ủy Hà Nội; phân tích mối quan hệ giữa nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, rút ra các quy luật và bài học kinh nghiệm.
Ngoài ra, luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành gồm phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh lịch sử và khảo sát thực tế tại các huyện ngoại thành.
Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án bao gồm:
- Văn kiện Đảng toàn quốc: Nghị quyết Đại hội VII, VIII, IX, X; các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị liên quan đến nông nghiệp, nông thôn (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII, Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII, Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về phương hướng phát triển Thủ đô).
- Văn kiện của Đảng bộ Thành phố Hà Nội: Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XI, XII, XIII, XIV; các chương trình hành động (tiêu biểu là Chương trình 06-CTr/TU ngày 5 tháng 5 năm 1992), kế hoạch chỉ đạo thực hiện, chỉ thị, thông tri, kết luận của Thành ủy và Ban Thường vụ Thành ủy.
- Văn bản quản lý nhà nước: Các quyết định, đề án, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các sở ban ngành chức năng và Ủy ban nhân dân 5 huyện ngoại thành.
- Tài liệu lưu trữ và thống kê: Tài liệu khai thác tại Chi cục Lưu trữ Thành phố Hà Nội, Phòng Lưu trữ Thành ủy Hà Nội, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Ban Tuyên giáo các huyện Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm; số liệu Niên giám thống kê do Cục Thống kê Thành phố Hà Nội phát hành qua các năm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Nội dung chương 1 hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu trong nước về nông nghiệp, nông thôn theo ba bình diện: toàn quốc, các tỉnh thành địa phương và địa bàn ngoại thành Hà Nội. Tác giả phân tích những kết quả mà các nghiên cứu đi trước đã giải quyết, bao gồm cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác động của quá trình đô thị hóa, vai trò của kinh tế hộ và các giải pháp cục bộ theo địa bàn hành chính. Đồng thời, chương 1 khẳng định khoảng trống học thuật mà luận án tập trung giải quyết là tái hiện toàn diện, hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trên ba lĩnh vực kinh tế nông thôn trong giai đoạn 1991 - 2008, đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm lãnh đạo.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế ngoại thành của Đảng bộ Thành phố Hà Nội từ năm 1991 đến năm 2000
Chương này trình bày các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, thực trạng kinh tế ngoại thành trước năm 1991, sự hình thành chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện trên các lĩnh vực cụ thể trong giai đoạn 1991 - 2000.
Về không gian và tài nguyên, sau điều chỉnh địa giới tháng 8 năm 1991, ngoại thành Hà Nội có diện tích 836,7 km2 (chiếm 91% diện tích toàn Thành phố) với 1,8 triệu dân cư ngụ tại 118 xã và 11 thị trấn thuộc 5 huyện: Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm. Đất nông nghiệp chiếm 92.885 ha (gồm 43.788 ha đất canh tác, 3.097 ha mặt nước và 8.000 ha đồi núi). Địa bàn được chia thành ba tiểu vùng sinh thái: vùng chuyển tiếp bán sơn địa phía bắc (nam Sóc Sơn, đông bắc Đông Anh), vùng đồng bằng thâm canh (Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm) và vùng bãi bồi ngoài đê ven sông Hồng.
Văn bản ghi nhận thực trạng kinh tế ngoại thành Hà Nội thời điểm trước năm 1991 và các chỉ tiêu phát triển được đề ra tại Chương trình số 06-CTr/TU ngày 5 tháng 5 năm 1992 cùng Kế hoạch ngày 14 tháng 8 năm 1993 của Thành ủy Hà Nội:
| Tiêu chí / Chỉ số |
Thực trạng trước năm 1991 |
Mục tiêu Chương trình 06-CTr/TU đến năm 1995 |
Điều chỉnh theo Kế hoạch thực hiện NQ TƯ 5 (tháng 8/1993) |
| Cơ cấu kinh tế ngoại thành |
Nông - lâm - thủy sản: 89% Công nghiệp - TTCN: 8,8% Thương nghiệp - dịch vụ: 2,2% |
Trồng trọt: 50% Chăn nuôi: 30% TTCN và dịch vụ: 20% |
Nâng tỷ trọng công nghiệp, TTCN và dịch vụ lên mức 40% trong cơ cấu tổng thu nhập |
| Cơ cấu lao động |
Tổng số: 312.011 lao động - Nông nghiệp: 269.945 người - Ngành nghề khác: 42.066 người (CN-TTCN: 26.988; TM-DV: 15.078) |
Sử dụng 75 - 80% lao động ngoại thành, trong đó: - Thủ công nghiệp: 10 - 15% - Dịch vụ: 10% |
Lao động nông nghiệp: giảm còn 65% Lao động CN - TTCN: 20% Lao động dịch vụ - thương mại: 15% |
| Giá trị sản xuất / Thu nhập |
Sản lượng lương thực: 217.340 tấn Giá trị sản xuất CN-TTCN: 47.691 triệu đồng (chiếm 29,4% toàn TP) |
Tổng giá trị sản lượng NN và TTCN đạt khoảng 1.000 tỷ đồng (tăng 42% so với 1990; tăng bình quân 7,35%/năm) Giá trị/ha canh tác: 22 triệu đồng/năm Thu nhập bình quân: 1,3 triệu đồng/khẩu/năm |
Nâng cao giá trị hàng hóa cả 3 khu vực; tăng hệ số sử dụng đất gieo trồng lên 2,5 lần; chăn nuôi chiếm 40% giá trị nông nghiệp |
| Hạ tầng và Xã hội |
Điện lưới: 97% xã, 74% cụm dân cư, 56% hộ dân có điện sinh hoạt Đường liên huyện, liên xã cải tạo: 42% Tưới chủ động: 70%, tiêu úng: 55% Hộ giàu: 15%, hộ khá: 30%, đủ ăn: 50%, thiếu ăn: 6 - 7% |
Chủ động tưới và tiêu trên 90% diện tích úng, hạn Quy hoạch nông thôn mới từng xã, cung cấp điện 100% các xã Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 5% |
Phấn đấu hộ giàu và đủ ăn đạt 85% Hộ nghèo đói giảm xuống 3% Ít nhất trên 30% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới |
Trong tổ chức chỉ đạo thực hiện giai đoạn 1991 - 2000, Thành ủy Hà Nội đã tập trung vào ba hướng:
- Nông nghiệp: Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu đô thị; đẩy mạnh thâm canh lúa, phát triển vùng rau sạch, hoa, cây ăn quả; cải tạo đàn bò theo hướng sind hóa đạt tỷ lệ 80%; phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc, gia cầm và nuôi cá thâm canh năng suất 7 - 8 tấn/ha/năm; nâng cao hệ số sử dụng đất canh tác.
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống gắn với xuất khẩu (gốm sứ Bát Tràng, đồ gỗ mỹ nghệ, điêu khắc, khảm trai, thêu ren, mây tre đan); quy hoạch các điểm, cụm công nghiệp nông thôn nhằm giải quyết lao động dôi dư (thời điểm 1990 tỷ lệ lao động nhàn rỗi ở nông thôn còn chiếm 36 - 40%).
- Thương nghiệp, dịch vụ: Mở rộng mạng lưới phân phối, xây dựng lại hệ thống 50 chợ nông thôn, phát triển dịch vụ vật tư nông nghiệp (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thủy nông), khuyến khích các hộ tư thương tham gia lưu thông hàng hóa kết nối ngoại thành với thị trường nội đô.
Chương 3: Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế ngoại thành từ năm 2001 đến năm 2008
Chương 3 phản ánh bước chuyển trong chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố theo tinh thần Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị (tháng 12 năm 2000) và Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XIII (2001) và XIV (2006). Yêu cầu đặt ra cho giai đoạn này là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, xây dựng mô hình nông nghiệp sinh thái ven đô có giá trị gia tăng cao.
Quá trình chỉ đạo của Thành ủy giai đoạn 2001 - 2008 tập trung vào các nội dung:
- Nông nghiệp: Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu diện tích đất lúa kém hiệu quả sang mô hình kinh tế trang trại, chuyên canh rau an toàn, hoa cây cảnh chất lượng cao, nuôi trồng thủy sản nước ngọt và chăn nuôi bò sữa tập trung (tại Gia Lâm, Đông Anh). Triển khai các chính sách hỗ trợ dồn điền đổi thửa, cơ giới hóa khâu làm đất và thu hoạch, ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất giống.
- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Xúc tiến xây dựng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn các huyện (như cụm công nghiệp Từ Liêm, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì) nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư, tạo việc làm tại chỗ cho nông dân thuộc diện thu hồi đất phục vụ đô thị hóa. Quy hoạch, bảo tồn các làng nghề truyền thống gắn với xử lý ô nhiễm môi trường nông thôn.
- Thương mại, dịch vụ: Phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại ven đô, nâng cấp hệ thống chợ đầu mối nông sản; mở rộng các loại hình dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp, dịch vụ vận tải, tín dụng nông thôn và hình thành các điểm du lịch sinh thái, du lịch làng nghề gắn với các di tích lịch sử - văn hóa.
Chương 4: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Tác giả đưa ra các đánh giá tổng hợp về ưu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội giai đoạn 1991 - 2008:
Ưu điểm:
- Đảng bộ Thành phố đã bám sát các nghị quyết của Trung ương, vận dụng phù hợp với đặc thù kinh tế Thủ đô; kịp thời ban hành các nghị quyết chuyên đề, chương trình hành động sát thực tế như Chương trình 06-CTr/TU.
- Cơ cấu kinh tế ngoại thành chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; hạ tầng kỹ thuật nông thôn (điện, đường, trường, trạm, thủy lợi) được nâng cấp đồng bộ; tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt, đời sống vật chất và văn hóa của nông dân được cải thiện.
Hạn chế:
- Năng suất cây trồng và vật nuôi ở một số vùng chưa ổn định; việc hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn diễn ra chậm; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa đồng đều.
- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nông thôn phát triển còn mang tính tự phát, nguy cơ ô nhiễm môi trường làng nghề gia tăng; hệ thống tiêu thụ nông sản còn thiếu bền vững.
- Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh dẫn đến những bất cập trong quản lý đất đai, giải phóng mặt bằng, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp.
Kinh nghiệm rút ra:
- Phải luôn xuất phát từ thực tiễn địa phương, bám sát các quan điểm, chủ trương của Trung ương để đề ra các nghị quyết, chương trình hành động đúng đắn, xác định trúng các khâu then chốt trong từng giai đoạn.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển nông nghiệp toàn diện với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề và dịch vụ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn.
- Coi trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội nông thôn đồng bộ với tiến trình quy hoạch đô thị hóa, bảo đảm phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái.
- Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân bị thu hồi đất và giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ngoại thành.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định ba đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử:
- Góp phần làm rõ sự vận dụng, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn vào thực tiễn cụ thể của một địa bàn đặc thù là vùng ngoại thành Thủ đô Hà Nội qua hai thời kỳ 1991 - 2000 và 2001 - 2008.
- Dựng lại bức tranh toàn diện, khách quan và có hệ thống về quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trên ba lĩnh vực: nông nghiệp; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; thương nghiệp, dịch vụ tại 5 huyện ngoại thành trước thời điểm điều chỉnh địa giới hành chính năm 2008.
- Đánh giá khách quan các ưu điểm, hạn chế, phân tích nguyên nhân và đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử, cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, lãnh đạo phát triển kinh tế ngoại thành của Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội trong giai đoạn mới.
Về mặt giải pháp, luận án đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý đất đai nông nghiệp ngoại thành, đẩy mạnh liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ, đa dạng hóa các nguồn vốn tín dụng phục vụ sản xuất hàng hóa lớn, tăng cường quản lý môi trường tại các làng nghề truyền thống và nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn ven đô.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trên địa bàn 5 huyện ngoại thành Hà Nội cũ (Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm) và chủ động loại trừ dữ liệu của các xã, thị trấn sau thời điểm được tách ra để thành lập các quận nội thành mới (như quận Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy trong các năm 1995 - 1996; quận Long Biên, Hoàng Mai năm 2004). Mốc thời gian dừng lại ở ngày 1 tháng 8 năm 2008, do đó công trình không khảo cứu giai đoạn sau khi địa giới hành chính Hà Nội được mở rộng hợp nhất với toàn bộ tỉnh Hà Tây và các địa phương phụ cận.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án là mở rộng khảo sát công tác lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong giai đoạn sau năm 2008, khi không gian ngoại thành mở rộng lên 18 huyện, thị xã với diện tích tự nhiên 2.938,49 km2 và dân số ngoại thành lên tới 3,5 triệu người.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành phục vụ cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Kinh tế phát triển và Quản lý công khi tìm hiểu về lịch sử kinh tế Thủ đô và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn ven đô thời kỳ đổi mới.
- Giảng viên các trường đại học, học viện chính trị trong giảng dạy các học phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và chuyên đề phát triển kinh tế vùng.
- Cơ quan Đảng, chính quyền, các ban chỉ đạo Chương trình nông thôn mới và cơ quan hoạch định chính sách của Thành phố Hà Nội trong việc nghiên cứu thực tiễn, rút kinh nghiệm quản lý đất đai ven đô, chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân và quy hoạch phát triển kinh tế ngoại thành trong điều kiện đô thị hóa nhanh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu khu vực ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn nào và giới hạn không gian ra sao?
Luận án nghiên cứu giai đoạn từ năm 1991 đến ngày 1 tháng 8 năm 2008. Không gian nghiên cứu tập trung tại 5 huyện ngoại thành gồm Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì và Từ Liêm, hình thành sau khi Quốc hội khóa VIII điều chỉnh địa giới hành chính Hà Nội vào tháng 8 năm 1991. Các địa bàn xã tách ra để lập các quận mới (Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai) trong giai đoạn này chỉ được tính trước thời điểm chuyển đổi địa giới.
2. Thực trạng cơ cấu kinh tế ngoại thành Hà Nội trước năm 1991 được ghi nhận trong luận án như thế nào?
Trước năm 1991, cơ cấu kinh tế ngoại thành Hà Nội rất lạc hậu: nông - lâm nghiệp và thủy sản chiếm 89%, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 8,8%, thương nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm 2,2%. Trong tổng số 312.011 lao động ngoại thành năm 1990, lao động nông nghiệp chiếm tới 269.945 người; tỷ lệ lao động nông thôn nhàn rỗi ở mức 36 - 40%; tỷ lệ hộ thiếu ăn thường xuyên chiếm 6 - 7%, tập trung chủ yếu ở huyện Sóc Sơn.
3. Chương trình số 06-CTr/TU ngày 5 tháng 5 năm 1992 của Thành ủy Hà Nội đặt ra các mục tiêu kinh tế chủ yếu nào đến năm 1995?
Chương trình số 06-CTr/TU đặt mục tiêu đến năm 1995: tổng giá trị sản lượng nông nghiệp và thủ công nghiệp đạt khoảng 1.000 tỷ đồng (theo giá năm 1992), tăng 42% so với năm 1990 (bình quân tăng 7,35%/năm); giá trị sản phẩm thu được đạt 22 triệu đồng/ha canh tác và 1,3 triệu đồng/khẩu/năm; cơ cấu giá trị gồm trồng trọt 50%, chăn nuôi 30%, thủ công nghiệp và dịch vụ 20%; sử dụng 75 - 80% lao động ngoại thành và giảm tỷ lệ nghèo xuống dưới 5%.
4. Kế hoạch ngày 14 tháng 8 năm 1993 của Thành ủy Hà Nội đã điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngoại thành ra sao sau Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII?
Thành ủy Hà Nội điều chỉnh mục tiêu: nhanh chóng đưa giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp - dịch vụ lên mức 40% trong cơ cấu giá trị tổng thu nhập của ngoại thành; nâng tỷ trọng chăn nuôi lên 40% giá trị nông nghiệp; điều chỉnh cơ cấu lao động: giảm lao động nông nghiệp xuống còn 65%, nâng tỷ lệ lao động công nghiệp - thủ công nghiệp lên 20% và lao động dịch vụ - thương nghiệp lên 15%; phấn đấu trên 30% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới đến hết năm 1995.
5. Vì sao luận án chọn mốc năm 2008 để kết thúc phạm vi nghiên cứu?
Ngày 1 tháng 8 năm 2008 là thời điểm Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII có hiệu lực thi hành, điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội (hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây và một phần tỉnh Vĩnh Phúc, Hòa Bình). Sự kiện này làm thay đổi căn bản diện tích, dân số và cơ cấu hành chính ngoại thành Hà Nội (tăng từ 5 lên 18 huyện, thị xã), mở ra một giai đoạn lịch sử mới đối với công tác lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Tiến Dũng đã tái hiện có hệ thống quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo phát triển kinh tế 5 huyện ngoại thành từ năm 1991 đến trước thời điểm hợp nhất mở rộng địa giới hành chính năm 2008. Công trình đã làm rõ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang phát triển kết hợp nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp làng nghề và thương mại dịch vụ ven đô. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử Đảng kết hợp logic học và tư liệu thống kê xác thực, luận án đánh giá khách quan các kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế do sức ép đô thị hóa và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho công tác quản lý, chỉ đạo kinh tế ngoại thành Hà Nội trong các giai đoạn tiếp theo.