phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Mê Linh từ năm 2008 đến năm 2013. Chƣơng 2: Quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Mê Linh từ năm 2008 đến năm 2013. Chƣơng 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm. 7 z Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN MÊ LINH TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2013 1.
Các căn cứ để hoạch định chủ trƣơng phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Mê Linh 1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội * Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Huyện Mê Linh nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô, cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km, có tọa độ địa lý từ 105036’ đến 105047’ kinh độ đông và 21008’ đến 21013’ vĩ độ bắc; phía Bắc giới hạn bởi sông Cà Lồ, giáp huyện Bình Xuyên, thị xã Phúc Yên của tỉnh Vĩnh Phúc; phía Nam giới hạn bởi sông Hồng, giáp huyện Đan Phượng; phía Tây giáp huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; phía Đông giáp huyện Sóc Sơn, Đông Anh. Địa bàn huyện có tuyến đường Bắc Thăng Long - Nội Bài, quốc lộ 23B chạy qua, 8 km đường sắt Hà Nội - Lào Cai với ga Thạch Lỗi nằm trên địa bàn thị trấn Quang Minh, được bao bọc bởi 2 con sông là sông Hồng và sông Cà Lồ, nằm kế cận ngay sân bay quốc tế Nội Bài. Với điều kiện thuận lợi về giao thông đường sắt, đường bộ, đường không và đường sông tạo cho Mê Linh có lợi thế trong giao lưu kinh tế với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc cũng như các tỉnh đồng bằng sông Hồng và cả nước cũng như quốc tế, tạo cơ hội cho Mê Linh phát triển toàn diện các mặt đời sống kinh tế, xã hội.
Địa hình Mê Linh là một huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam theo hướng ra sông Hồng. Với tổng diện tích tự nhiên 14.251 ha, theo đặc điểm địa hình, huyện Mê Linh được chia thành 3 tiểu vùng như sau: 8 z - Tiểu vùng đồng bằng: chiếm 47% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, có địa hình nhấp nhô, lượn sóng với độ dốc khoảng 8 oC, do phù sa cũ của hệ thống sông Hồng, sông Cà Lồ bồi đắp, bao gồm các xã Vạn Yên, Tự Lập, Tiến Thắng, Thanh Lâm, Đại Thịnh, Kim Hoa, Quang Minh, Mê Linh, Tiền Phong. Trong số các xã này có 6 xã: Tiền Phong, Mê Linh, Đại Thịnh, Thanh Lâm, Quang Minh, Kim Hoa được hình thành trên nền phù sa cổ, nguồn gốc đất bạc màu do đó chỉ thích hợp với trồng màu, hoặc phát triển sản xuất công nghiệp và xây dựng. - Tiểu vùng ven đê sông Hồng: chiếm 22% diện tích đất tự nhiên của huyện, có địa hình tương đối bằng phẳng, bao gồm các xã Tiến Thịnh, Chu Phan, Thạch Đà, Hoàng Kim, Văn Khê, Tráng Việt.
Tiểu vùng địa hình này thuộc diện tích đất phù sa giàu hàm lượng dinh dưỡng, được sông Hồng bồi đắp hàng năm do đó rất thích hợp với phát triển sản xuất nông nghiệp. Với phân bố ven sông Hồng, một số xã có thể phát triển du lịch sinh thái như: Tự Lập, Chu Phan, Tráng Việt,… - Tiểu vùng trũng: chiếm 31% diện tích đất tự nhiên, bao gồm các xã Tam Đồng, Liên Mạc và một phần còn lại của các xã ven sông Hồng. Tiểu vùng trũng là vùng đất bãi ngoài đê là đất phù sa có hàm lượng dinh dưỡng trung bình và cao, đã được thủy lợi hóa tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với phát triển nông nghiệp kỹ thuật cao (trồng cây lương thực, rau màu thực phẩm). Đặc điểm địa hình này cho phép Mê Linh có thể xây dựng cơ cấu kinh tế đa dạng bao gồm sản xuất nông nghiệp sinh thái kết hợp với sản xuất công nghiệp, xây dựng và du lịch sinh thái.
Khí hậu - thủy văn Khí hậu: Huyện Mê Linh có hình thái khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 - 250C, dao động nhiệt độ trong năm của Mê Linh từ 12 - 35 độ C. Mùa nóng trong năm kéo dài 5 tháng, từ tháng 5 9 z - 9 với nhiệt độ nóng nhất vào tháng 6, 7 trung bình trên 30 0C, mùa lạnh kéo dài khoảng 3 đến 4 tháng (từ tháng 12 đến tháng 2 hoặc 3 năm sau); tháng lạnh nhất (tháng 12, 1) nhiệt độ xuống thấp < 180 C, giữa mùa nóng và mùa lạnh có thời kỳ chuyển tiếp tạo cho Mê Linh thời tiết 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông. Độ ẩm trung bình trong năm dao động trong khoảng 70 - 80%.
Số giờ nắng trong năm khá cao, khoảng 1.400 giờ, lượng mưa trung bình của huyện vào khoảng 1. Thủy văn: Mê Linh có hệ thống sông, hồ và đầm khá phong phú, trong đó có 2 hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Cà Lồ. - Sông Hồng: với chiều dài chảy qua khoảng 19,7 km bao bọc phía Nam của huyện Mê Linh với lưu lượng nước trung bình khoảng 3. Sông Hồng chính là tuyến đường thủy nối Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, tạo điều kiện giao lưu phát triển kinh tế cho địa phương.
- Sông Cà Lồ: là phụ lưu cấp 1 của phần lưu vực sông Thái Bình, chảy qua phía Bắc và Đông Bắc huyện Mê Linh, dài 8,6 km. Sông Cà Lồ chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc và hội tụ với nhánh 1 tại khu vực thôn Đại Lợi thị xã Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc). Lòng sông rộng trung bình 50 - 60m, tuy nhiên lượng nước của sông không nhiều, trung bình khoảng 30m3/s (vào mùa mưa là 286m3/s). Sông Cà Lồ chủ yếu đóng vai trò tiêu úng mùa mưa của huyện Mê Linh.
- Hệ thống ao, hồ, đầm: Mê Linh có trên 200 ha ao hồ, đầm với trữ lượng nước khá lớn, có ý nghĩa quan trọng với việc phát triển nuôi trồng thủy sản và phục vụ nhu cầu nước tại chỗ. Điều kiện khí hậu, thủy văn của Mê Linh rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa các loại vật nuôi, cây trồng, thâm canh tăng vụ. Hệ thống sông ngòi, ao hồ là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sản xuất và 10 z đời sống nhân dân và có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản. Tài nguyên và môi trường Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Mê Linh nói chung là nghèo, chủ yếu là cát và đất sét, các loại tài nguyên khác không đáng kể.
Cát và đất sét tập trung dọc sông Hồng là nguồn tài nguyên có thể khai thác sử dụng làm vật liệu xây dựng của địa phương. Tài nguyên nước của Mê Linh bao gồm cả 3 nguồn nước mặt, nước ngầm và nước mưa. Với chiều dài khoảng 19,7 km qua huyện, sông Hồng là một yếu tố tạo khả năng phát triển du lịch sinh thái cho Mê Linh. Sông Hồng, hệ thống ao hồ, đầm tự nhiên, sông Cà Lồ có trữ lượng nước khá lớn có khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống nhân dân địa phương.
Nước ngầm của Mê Linh thuộc tầng chứa nước tương đối sạch và trữ lượng từ trung bình tới giàu nước, nhưng hiện nay cũng đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và khai thác quá mức. Nước mưa: với lượng nước mưa trung bình 1.330 mm trong năm, đây là nguồn nước bổ sung cho cá ao, hồ đầm và cho các sinh hoạt khác của nhân dân. Môi trường của Mê Linh đang đối mặt với thách thức do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hoá, đặc biệt là môi trường các khu công nghiệp. Ô nhiễm môi trường nước, không khí, rác thải ảnh hưởng khá lớn tới đời sống, sản xuất dân cư quanh các khu vực này.
Nguồn lực đất đai Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Mê Linh là 14.226,6ha, với đặc trưng là đất đồng bằng xen kẽ với các vùng trũng, được hình thành do sự bồi lắng của sông Hồng và mang đặc tính của đất phù sa cổ, có khoảng 2.160,6 ha được bồi đắp hàng năm. Nằm trong vùng châu thổ sông Hồng chia thành 3 11 z vùng khác nhau có chất lượng đất đai đa dạng có thể phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú, phù hợp với chất đất và truyền thống sản xuất của nông dân các vùng khác nhau. - Đất nông nghiệp: Với diện tích 8010,1 ha, đất nông nghiệp của Mê Linh chủ yếu được sử dụng để trồng lúa chiếm tới 71%, bên cạnh đó là phần diện tích sử dụng để trồng hoa, rau và các cây hàng năm chiếm tới 20% diện tích đất nông nghiệp. Đây là quỹ đất có thể dành cho phát triển nông nghiệp sinh thái, là tiềm năng cho phát triển “phố vườn”, “nhà vườn”, phục vụ cho du lịch, dịch vụ, kết hợp giữa kinh tế nông nghiệp và kinh tế du lịch tạo nên nét độc đáo, tinh tế, đồng thời đây cũng là quỹ đất dự trữ cho quá trình đô thị hóa.
- Đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng: Quỹ đất này của Mê Linh là tương đối lớn, chiếm tới 25,42% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện. Hiện tại diện tích này đã được sử dụng chủ yếu cho các công trình hạ tầng văn hóa xã hội và công trình phát triển kinh tế, không còn nhiều quỹ đất trống cho quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển đô thị hiện đại. * Điều kiện kinh tế - xã hội Dân cư Tổng dân số toàn huyện đến cuối năm 2013 là 196.459 người, tốc độ tăng dân số bình quân của huyện đạt 1,81%/năm. Trong khi tốc độ tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm dần (khoảng 1,4%), thì tốc độ tăng dân số cơ học có nhiều dấu hiệu tăng.
Về cơ cấu dân số, dân số thuộc khu vực nông nghiệp là 140.650 người (chiếm 71,59%), dân số phi nông nghiệp là 55. Về cơ cấu lao động: Lao động nông nghiệp có xu hướng giảm, lao động trong các ngành phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên. Điều đó chứng tỏ huyện đang có sự chuyển dịch mạnh về cơ cấu các ngành kinh tế. Lao động 12 z trong các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, chế biến và nhất là đối với ngành thương mại dịch vụ tăng lên đáng kể.
Những giá trị văn hóa truyền thống nổi bật - Một vùng đất nhiều di tích lịch sử - văn hóa: Ở Mê Linh ngày nay còn nhiều di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng mang đậm nét bản sắc dân tộc, có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật và lịch sử. Trước hết là các di tích lịch sử thời Hai Bà Trưng.