Định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân huyện báv ái tỉnh ninh thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến năm 2020 luận văn thạc sĩ

Định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Bác Ái, Ninh Thuận trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường đến năm 2020.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2010

205
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ

1.1. Những vấn đề chung về kinh tế nông hộ

1.1.1. Khái niệm kinh tế nông hộ

1.1.2. Đặc trưng của kinh tế nông hộ

1.1.3. Những yếu tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế nông hộ

1.2. Một số quan điểm chủ yếu về kinh tế nông hộ

1.2.1. Quan điểm của C.

1.2.2. Quan điểm về kinh tế tiểu nông

1.2.3. Quan niệm về con đường vận động kinh tế của tiểu nông

1.3. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển kinh tế hộ nông dân trong quá trình hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN

1.4. Sự cần thiết khách quan và vai trò của việc phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường

1.4.1. Sự cần thiết khách quan

1.4.2. Vai trò của kinh tế nông hộ trong nền kinh tế thị trường

1.4.2.1. Kinh tế nông hộ là cầu nối, là khâu trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa
1.4.2.2. Kinh tế nông hộ là đơn vị tích tụ vốn cho sản xuất kinh doanh
1.4.2.3. Kinh tế nông hộ là đơn vị cơ sở thực hiện phân công lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn
1.4.2.4. Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở tiếp nhận khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế
1.4.2.5. Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế cơ bản đáp ứng cung-cầu của thị trường và đơn vị tiêu dùng xã hội

1.5. Thực tế phát triển kinh tế nông hộ ở một số tỉnh trong nước, bài học kinh nghiệm

1.5.1. Thực tế phát triển kinh tế nông hộ ở một số tỉnh trong nước

1.5.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tế phát triển kinh tế nông hộ

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN

2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Bác Ái nhìn từ góc độ nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân

2.1.1. Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên

2.1.2. Đặc điểm về kinh tế

2.1.3. Đặc điểm về văn hóa – xã hội

2.2. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Bác Ái

2.2.1. Giai đoạn từ trước năm 2000

2.2.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004

2.2.3. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

2.3. Đánh giá chung và những vấn đề cần đặt ra

2.3.1. Khó khăn và yếu kém

2.3.2. Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra

3. CHƯƠNG III: NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN NĂM 2020

3.1. Những quan điểm phát triển bền vững kinh tế hộ nông dân huyện miền núi Bác Ái trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường

3.1.1. Phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi phải gắn liền với việc bảo vệ và phát triển môi trường bền vững

3.1.2. Phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi phải trên cơ sở phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa

3.1.3. Phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi phải trên cơ sở xây dựng nền kinh tế mở

3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế hộ ở huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận

3.2.1. Nhóm giải pháp về quan hệ sản xuất

3.2.1.1. Về đất đai
3.2.1.2. Về tổ chức và quản lý sản xuất

3.2.2. Nhóm giải pháp về phát triển lực lượng sản xuất

3.2.2.1. Về tư liệu sản xuất và vốn lưu động
3.2.2.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng kết hợp với phát triển du lịch, tổ chức tốt mạng lưới thương nghiệp, từng bước xây dựng và phát triển thị trường nông sản, thị trường nông thôn

3.2.3. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực và tác động của hệ thống kiến trúc thượng tầng

3.2.3.1. Bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực
3.2.3.2. Nâng cao vai trò của hệ thống chính trị ở địa phương
3.2.3.3. Coi trọng công tác quy hoạch, kế hoạch; hoạch định và ban hành các chính sách phù hợp nhằm đảm bảo phát triển ổn định và bền vững

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Bác Ái Ninh Thuận

Phát triển kinh tế hộ nông dân là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao đời sống của người dân tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Kinh tế hộ nông dân không chỉ đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của khu vực nông thôn. Đến năm 2020, huyện Bác Ái đã có những bước tiến đáng kể trong việc chuyển đổi từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa, góp phần cải thiện đời sống cho người dân.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Bác Ái

Huyện Bác Ái có địa hình chủ yếu là đồi núi, với khí hậu khô hạn, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, nơi đây cũng có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, như đất đai màu mỡ và nguồn nước phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế hộ nông dân.

1.2. Vai trò của kinh tế hộ nông dân trong phát triển địa phương

Kinh tế hộ nông dân không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm cho thị trường mà còn tạo ra việc làm cho nhiều lao động địa phương. Sự phát triển của kinh tế hộ nông dân còn góp phần vào việc bảo tồn văn hóa và phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Bác Ái.

II. Những thách thức trong phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Bác Ái

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Bác Ái vẫn gặp phải nhiều thách thức. Tình trạng manh mún trong sản xuất, thiếu vốn đầu tư và công nghệ là những vấn đề cần được giải quyết. Ngoài ra, sự biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn

Nhiều hộ nông dân tại huyện Bác Ái gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay từ ngân hàng và các tổ chức tài chính. Điều này hạn chế khả năng đầu tư vào sản xuất và mở rộng quy mô kinh doanh.

2.2. Thiếu kiến thức và kỹ năng sản xuất

Nhiều nông dân chưa được đào tạo bài bản về kỹ thuật sản xuất hiện đại, dẫn đến năng suất lao động thấp và chất lượng sản phẩm không ổn định. Việc thiếu thông tin về thị trường cũng làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.

III. Phương pháp phát triển kinh tế hộ nông dân bền vững tại Bác Ái

Để phát triển kinh tế hộ nông dân bền vững, huyện Bác Ái cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và phát triển du lịch nông thôn có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Đồng thời, cần chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu cho nông sản địa phương.

3.1. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn

Cải thiện cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống tưới tiêu sẽ giúp nông dân dễ dàng hơn trong việc vận chuyển hàng hóa và tiếp cận thị trường. Điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp.

3.2. Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân

Cần có các chương trình đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân về sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Việc này không chỉ nâng cao năng suất mà còn giúp nông dân hiểu rõ hơn về thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại huyện Bác Ái

Nghiên cứu về phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Bác Ái đã chỉ ra rằng, việc áp dụng các mô hình sản xuất mới và công nghệ tiên tiến đã mang lại hiệu quả tích cực. Nhiều hộ nông dân đã chuyển đổi từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

4.1. Mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả

Một số hộ nông dân đã áp dụng mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, giúp tăng giá trị sản phẩm và thu hút được nhiều khách hàng. Mô hình này không chỉ bảo vệ môi trường mà còn tạo ra sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng.

4.2. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ phát triển

Các chương trình hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ đã giúp nhiều hộ nông dân tiếp cận được nguồn vốn và kỹ thuật mới. Điều này đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp địa phương.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho kinh tế hộ nông dân huyện Bác Ái

Kinh tế hộ nông dân huyện Bác Ái cần tiếp tục được phát triển theo hướng bền vững. Việc xây dựng các chính sách hỗ trợ hợp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân sẽ là yếu tố quyết định cho sự thành công trong tương lai. Định hướng phát triển cần chú trọng đến việc bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Cần xây dựng các chính sách phát triển kinh tế hộ nông dân gắn liền với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Điều này sẽ giúp đảm bảo nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các hộ nông dân

Việc hình thành các hợp tác xã nông nghiệp sẽ giúp nông dân nâng cao sức cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro trong sản xuất. Hợp tác cũng tạo điều kiện cho việc chia sẻ kinh nghiệm và công nghệ giữa các hộ nông dân.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ 1.1 Những vấn đề chung về kinh tế nông hộ.1 Khái niệm kinh tế nông hộ. Kinh tế hộ nông dân hay còn gọi là kinh tế nông hộ đã xuất hiện từ rất lâu. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì các hình thức tổ chức sản xuất và quan hệ sản xuất cũng biến đổi theo, bản thân khái niệm về kinh tế nông hộ cũng có sự thay đổi và phát triển tương ứng với trình độ của nền sản xuất. Khi nghiên cứu về khái niệm “hộ”, các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa dưới những góc độ khác nhau.

Về phương diện thống kê, Liên Hiệp Quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”. Tại cuộc thảo luận quốc tế về quản lý nông trại ở Hà Lan năm 1980, các nhà khoa học nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”. Khi xét hộ gia đình với tư cách là một đơn vị kinh tế, Frank Ellis nêu định nghĩa: “Đó là hộ gia đình làm nông, có quyền kiếm kế sinh nhai từ những mảnh đất đai, sử dụng sức lao động gia đình để sản xuất”. Những quan niệm về hộ trên đây chỉ đề cập đến chức năng sản xuất, tiêu dùng,… của hộ.

Hay nói cách khác, xem hộ như một đơn vị kinh tế. Khía cạnh nhân chủng học của hộ chưa được đề cập.Mc Gee (1989), trường đại học British Columbia, khi khảo sát “kinh tế hộ trong quá trình phát triển” ở một số nước Châu Á đã nêu lên rằng: “Ở các nước Châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”.Gee đã phân biệt sự khác nhau Trang Luận văn tốt nghiệp Trang Luận văn tốt nghiệp giữa hộ và gia đình. Điểm khác nhau căn bản đó là gia đình là nhóm người cùng chung huyết tộc. Gia đình hạt nhân một vợ một chồng và các con là đơn vị cơ bản của xã hội.

Gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ khác nhau cùng chung sống trong một mái nhà đang trong quá trình giải thể. Như vậy, gia đình là một loại hộ cơ bản.Chaianov, nhà kinh tế nông nghiệp được mệnh danh là “Các Mác của nông dân” có quan điểm về kinh tế nông hộ như sau: “Khái niệm hộ, đặc biệt là trong đời sống nông thôn không phải bao giờ cũng tương đương với khái niệm sinh học làm chỗ dựa cho nó mà nội dung còn có thêm cả một loạt những phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống gia đình”. Còn ở nước ta hiện nay, nhiều người đồng nhất khái niệm hộ và gia đình. Thực ra, đây là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất.

Qua một số định nghĩa trên đây, ta thấy hộ và gia đình có những tiêu thức chung để nghiên cứu như cơ sở hành chính, kinh tế, quan hệ huyết thống và hôn nhân, tình trạng cư trú,… Tuy vậy, gia đình thường được xem xét trong các mối quan hệ về xã hội, còn hộ là một đơn vị kinh tế; khi xem xét bản chất kinh tế của nó trong mối tương quan với các loại hình kinh tế khác như kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước và với các tổ chức kinh tế khác cũng như sự vận động của nó trong toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nói chung và cơ chế quản lý nông nghiệp nói riêng. Như vậy, gia đình được coi là hộ khi các thành viên có chung một cơ sở kinh tế. Ngược lại, hộ chỉ được coi là gia đình khi các thành viên của nó quan hệ huyết thống và hôn nhân. Dựa vào điều kiện thực tế của nước ta, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn, chúng ta thấy rằng giữa hộ và gia đình không thể tách rời được với nhau bởi vì có rất ít hộ nông dân nào mà không dựa trên cơ sở gia đình, ngược lại có rất ít gia đình không có chung một cơ sở kinh tế.

Do vậy, có thể dùng khái niệm hộ gia đình để biểu thị các thành viên của nó có cùng huyết tộc và quan hệ hôn Trang Luận văn tốt nghiệp Trang Luận văn tốt nghiệp nhân, và có chung một cơ sở kinh tế. Hộ gia đình ở nông thôn làm nông nghiệp gọi là hộ gia đình nông dân (gọi tắt là nông hộ). Mỗi nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở của nền kinh tế nông nghiệp, hình thức đặc trưng của nó là kinh tế hộ gia đình (gọi tắt là kinh tế nông hộ). Như vậy kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế tự chủ (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp), dựa trên cơ sở sức lao động của gia đình là chính và quyền sử dụng lâu dài phần ruộng đất mà họ canh tác và các tư liệu sản xuất khác.

Ngày nay, ở nhiều nước còn sử dụng khái niệm nông trại gia đình để chỉ hình thức sản xuất kinh doanh nông nghiệp gia đình trong nền sản xuất hàng hóa và phân biệt nó với kinh tế tiểu nông ở mục tiêu sản xuất. Nếu kinh tế tiểu nông có quy mô nhỏ, năng suất và chất lượng hàng hóa thấp, tính chất tự cấp - tự túc cao thì ở nông trại gia đình có quy mô sản xuất lớn hơn, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật cao hơn, sản xuất phục vụ thị trường nhiều hơn. Thực chất, nông trại gia đình là sự phát triển cao của kinh tế nông hộ.2 Đặc trưng của kinh tế nông hộ. Mô hình sản xuất của nông hộ có những đặc trưng riêng biệt, nó có một cơ chế vận hành riêng, do đó có thể thấy rằng: nông hộ là một đơn vị kinh tế xã hội khá đặc biệt.

Một là, trong cấu trúc nội tại của nông hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể của hộ. Nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế. Nông hộ có thể thực hiện cùng lúc nhiều chức năng mà các đơn vị khác không có được. Bản thân mỗi hộ nông dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng trong sinh hoạt.

Hai là, nông hộ là đơn vị tái sản xuất chứa đựng các yếu tố hay các nguồn lực của quá trình tái sản xuất (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật,…), là đơn vị sản Trang Luận văn tốt nghiệp Trang Luận văn tốt nghiệp xuất tự thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên việc phân bố các nguồn lực vào các ngành sản xuất để thực hiện tốt các chức năng của nó. Trong quá trình đó, nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị khác và với hệ thống kinh tế quốc dân. Khai thác đầy đủ những khả năng và tiềm lực của nông hộ sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân. Như vậy, đặc trưng bao trùm của kinh tế nông hộ là các thành viên trong hộ làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình mình.

Mặt khác, kinh tế nông hộ nhìn chung là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cấp- tự túc hoặc có sản xuất hàng hóa với năng suất lao động thấp, nhưng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng. Như đã nêu trên, nông hộ là tế bào kinh tế - xã hội, là hình thức tổ chức cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tồn tại từ lâu đời ở các nước nông nghiệp. Thành viên của nông hộ bao gồm chủ yếu là cha mẹ và con cái và có thể còn có cả ông bà và cháu chắt. Ba là, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống.

Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trong quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý và phân phối sản phẩm. Các thành viên có chung mục tiêu và lợi ích là thoát khỏi đói nghèo, phát triển kinh tế để ngày càng giàu có. Từ thống nhất về lợi ích đến thống nhất về hành động, các thành viên đều làm việc hết sức mình để có được thu nhập cao cho gia đình và cũng là cho mỗi người. Các thành viên trong gia đình nông dân từ trẻ đến già nếu có thể lao động được thì đều tham gia lao động không kể tuổi tác, người yếu làm việc nhẹ, người khỏe làm việc nặng.

Do đó, việc phân công và hiệp tác lao động của nông hộ có nhiều ưu điểm mà các tổ chức sản xuất cơ sở khác không thể có được: đó là tính Trang Luận văn tốt nghiệp Trang Luận văn tốt nghiệp tự nguyện, tự giác cao và tận dụng tối đa khả năng của mỗi người và mọi đều kiện có thể trong lao động. Bốn là, trong mỗi nông hộ thường là cha hay mẹ làm chủ hộ, vừa là người tổ chức phân công lao động vừa trực tiếp lao động. Các thành viên trong gia đình cùng lao động, gần gũi nhau, hiểu nhau về khả năng, đặc điểm của mỗi người nên tạo điều kiện cho việc phân công hợp tác được hợp lý. Mỗi nông hộ, trừ hộ làm thuê, đều sở hữu hoặc một bộ phận các tư liệu sản xuất như ruộng đất, trâu, bò, nông cụ, máy móc,… Các thành viên đã quen sử dụng nên hiểu được đặc tính của mỗi loại tư liệu sản xuất.

Người chủ nông hộ vừa quản lý điều hành sản xuất vừa trực tiếp lao động nên mọi người trong hộ đều gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất. Từ đó, các thông tin được xử lý nhanh, kịp thời, các quyết định điều hành sản xuất được đúng đắn, dứt khoát. Năm là, về quan hệ phân phối, các thành viên trong nông hộ cùng làm, cùng ở, cùng ăn do chủ hộ là cha hay mẹ bố trí sắp xếp. Do đó, nếu có mâu thuẫn phát sinh trong phân phối thì cũng dễ giải quyết.

Khi con cái trưởng thành tách ra lập hộ khác, cha mẹ có trách nhiệm phân chia tài sản gia đình trên cơ sở bàn bạc dân chủ, đây cũng chính là hình thức phân phối lại vốn một cách tự giác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ