CHƯƠNG 1. Giới thiệu về tỉnh Lạng Sơn và xu hướng nghèo đi so với cả nước Lạng Sơn là tỉnh miền núi phía đông bắc Việt Nam, diện tích tự nhiên 8.305,21 km2, dân số trung bình năm 2009 là 731.8871, mật độ dân số 88 người/km2. Nằm trong khu vực khó khăn nhất của Việt Nam, Lạng Sơn hội đủ các điều kiện khó khăn của một tỉnh miền núi phía bắc: địa hình 80% là đồi núi2, dân cư thưa thớt, chủ yếu dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp3, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế tự túc, tự cấp vẫn còn khá phổ biến, khí hậu tương đối khắc nghiệt, với mùa đông kéo dài, thường xuyên có rét đậm, rét hại; trữ lượng tài nguyên khoáng sản thấp nhất so với các tỉnh miền núi. Mặc dù gặp nhiều khó khăn như vậy, nhưng sau hơn 23 năm đổi mới (1986 - 2008), kinh tế Lạng Sơn đã có những bước tăng trưởng vượt bậc, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 8,55%/năm4, là mức cao nhất trong các tỉnh miền núi phía bắc và cao hơn mức trung bình của cả nước.
Năm 2008, GDP theo giá so sánh đạt 3.305 triệu đồng, gấp 5,63 lần so với năm 1986, Lạng Sơn trở thành tỉnh dẫn đầu về kinh tế trong các tỉnh miền núi phía bắc. Tuy nhiên, với mức xuất phát điểm thấp Lạng Sơn hiện vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất nước với thu nhập bình quân đầu người5 năm 2008 là 10,356 triệu đồng/người/năm chỉ gần bằng 2/3 so với mức thu nhập bình quân cả nước đặc biệt xu hướng này đang có chiều hướng tăng lên một cách tương đối. Năm 1990, GDP bình quân đầu người của Lạng Sơn là 476,82 nghìn đồng người/năm, thấp hơn mức trung bình cả nước là 158,7 nghìn đồng, nhưng đến năm 2008, mức chênh lệch này đã tăng lên là 6,785 triệu đồng, tăng gấp 42,75 lần và với xu thế này, điều tất yếu xảy ra Lạng Sơn sẽ ngày càng nghèo đi so với cả nước.2 thể hiện rõ nhất nguy cơ này, khi mức chênh lệch có xu hướng ngày càng tăng nhanh. 1 Kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số năm 2009 2 96,27% diện tích có độ cao dưới 700m, 3,73% có độ cao 700m–1541m, còn lại có độ cao <300m 3 tỷ lệ đi học phổ thông năm 2008 chỉ đạt 61,61%, tỷ lệ tốt nghiệp 85,85% 4 Tăng trưởng GDP theo giá so sánh - Nguồn cục thống kê Lạng Sơn 5 GDP bình quân đầu người theo giá thực tế - Nguồn cục thống kê Lạng Sơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
So sánh GDP bình quân đầu người giữa Lạng Sơn và cả nước theo giá thực tế Biểu đồ 1. So sánh GDP bình quân đầu người giữa Lạng Sơn và cả nước 20.000 - 1990 1995 2000 2005 2010 Lạng Sơn Cả nước Nguồn: TCTK và thống kê Lạng Sơn Biểu đồ 1. Chênh lệch GDP bình quân đầu người giữa Lạng Sơn và cả nước Nghìn VNĐ 8.000 - 1990 1995 2000 2005 2010 Nguồn: TCTK và thống kê Lạng Sơn Có nhiều sự nghi ngờ về tính chính xác của chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, như: thống kê thiếu đối với hoạt động dịch vụ; các hoạt động sản xuất tính giá trị gia tăng theo tỷ lệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- % giá trị sản xuất của từng ngành chỉ là tương đối. Nhưng kết quả so sánh tương đối, trên cũng phù hợp với kết quả điều tra thu nhập bình quân tháng của các hộ gia đình về xu hướng nghèo đi tương đối của người dân Lạng Sơn.
So sánh thu nhập bình quân của Lạng Sơn và cả nước Năm 1993 mức chênh lệch chỉ là 21,17 nghìn đồng, sau 13 năm, đến năm 2006, mức chênh lệch thu nhập đã tăng lên 174,44 nghìn đồng/tháng, tăng gấp 8,23 lần. Tất nhiên, mức tăng 8,23 lần trong 13 năm có thể là phi lý khi chưa tính tới lạm phát và mức chi tiêu cho cuộc sống tại mỗi nơi. Mức chi tiêu cho cuộc sống tại mỗi nơi là khác nhau. Như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh phải có mức thu nhập cao hơn do phải chi tiêu nhiều hơn cho cuộc sống như: giá cả hàng hóa tiêu dùng cao hơn, sử dụng nhiều dịch vụ đô thị hơn.
Về lạm phát, ta có thể sử dụng kết quả chênh lệch tương đối. Tỷ lệ chênh lệch thu nhập không thay đổi nhiều cả ở hai số liệu thống kê: đối với chỉ tiêu GDP bình quân đầu người Lạng Sơn thấp hơn cả nước 1,6 - 1,7 lần, đối với chỉ tiêu về thu bình quân tháng tỷ lệ này giữ ở mức 1,2 - 1,3 lần. Điều này cho phép biện hộ cho sự chênh lệch này là tất yếu và có thể chấp nhận được. Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa việc có các vùng động lực phát triển nhanh hơn các địa phương khác như Lạng Sơn là tất yếu, và việc Lạng Sơn vẫn duy trì mức tăng trưởng kinh tế bằng với cả nước đã là một nỗ lực rất lớn.
Có nhiều lý do thuyết phục để biện hộ cho sự yếu kém về kinh tế của Lạng Sơn, nhưng một thực tế không thể phủ nhận Lạng Sơn đang ngày càng nghèo đi so với cả nước. Kết quả thống kê trên hoàn toàn phù hợp với đánh giá của nhiều người dân Lạng Sơn. Khi họ cho rằng cuộc sống của người dân Lạng Sơn ngày càng khó khăn hơn. Do vậy yêu cầu cấp bách đặt ra là phải đẩy nhanh hơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế của Lạng Sơn, giảm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- sự chênh lệch ngày càng gia tăng giữa Lạng Sơn và cả nước.
Đây không chỉ là vấn đề của riêng Lạng Sơn, mà còn là vấn đề của Chính phủ Việt Nam, nhằm đảm bảo sự phát triển công bằng và bền vững giữa các vùng miền của cả nước. Đánh giá của một số người dân về cuộc sống ở Lạng Sơn Các chỉ tiêu phân tích trên cho thấy tầm quan trọng của vấn đề chính sách phát triển kinh tế của Lạng Sơn. Thay vì nhìn thấy sự tăng trưởng liên tục với tốc độ khá (GDP tăng trên 8,55%/năm trong hơn 23 năm) để có thể thỏa mãn chính mình, Lạng Sơn nên nhận ra rằng mức sống của người dân Lạng Sơn đang tụt hậu ngày càng tăng so với cả nước. Dường như Lạng Sơn phát triển dưới tiềm năng.
Ngày 14/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 138/2008/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu Kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, Lạng Sơn, với kỳ vọng: “sau năm 2010 phát triển thành trục tứ giác trọng điểm kinh tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một kỳ vọng lớn, nhưng đúng với mong đợi của người dân Lạng Sơn. Lạng Sơn có lợi thế và cơ hội để đột phá về kinh tế so với cả nước, chứ không phải ngày càng nghèo đi. Với bối cảnh trên, bài nghiên cứu này trả lời hai câu hỏi: Lạng Sơn hiện nên làm gì để thúc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế? Cơ hội nào để Lạng Sơn có thể có tăng trưởng đột phá về kinh tế, thu hẹp khoảng cách về thu nhập với cả nước? Để trả lời hai câu hỏi trên, bài nghiên cứu xuất phát từ thực tế của Lạng Sơn, sử dụng các công cụ phân tích vi mô để: (1) Áp dụng lý thuyết về lợi thế so sánh để đánh giá các yêu tố sản xuất của Lạng Sơn, yếu tố nào có lợi thế so sánh, có thể khai thác để thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế; (2) Sử dụng lý thuyết về chi phí giao dịch vào phân tích tình hình phát triển kinh tế của Lạng Sơn giai đoạn 1986 - 2008, trong đó có giai đoạn tăng trưởng khá nhanh (1991-1996); (3) Áp dụng kinh nghiệm được rút ra trong mô hình phát triển kinh tế đánh giá các cơ hội chủ yếu đã bị bỏ qua trong giai đoạn này; (4) Phân tích thể chế và thực tiễn để đánh giá hai yếu có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế của Lạng Sơn hiện tại: chiến lược xây dựng hành lang kinh tế phát triển hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Lạng Sơn - Nam Ninh và vấn đề đảm bảo quốc phòng.
Các yếu tố của sản xuất - Hạn chế và lợi thế của Lạng Sơn Dân số trung bình năm 2009 của Lạng Sơn, theo kết quả tổng điều tra dân số là 731.887 nghìn người, chiếm 0,85% tổng dân số cả nước, mật độ dân số 88người/km2, dân số thành thị chiếm 19,3%. Quy mô dân số thấp và phân tán, mật độ dân số, tỷ lệ đô thị hóa thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của cả nước, thị trường nội tỉnh của Lạng Sơn rất kém hấp dẫn. Tốc độ tăng dân số thấp 0,4%/năm, chỉ bằng 0,33 lần mức trung bình cả nước. Phản ánh dân cư di cư khỏi Lạng Sơn nhiều hơn số dân đến.
Tổng số lao động đang làm việc trong các thành phần kinh tế năm 2008 là 458.410 người, chiếm tỷ lệ 60,4% dân số. Trong đó, lao động trong ngành nông, lâm nghiệp chiếm tới 76,31% tống số lao động, công nghiệp 2,97%, xây dựng chiếm 1,17%, dịch vụ chiếm 11,05% giáo dục, y tế, hành chính nhà nước chiếm 8,5%. Trong khi lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ có 19,6%6 trong tổng số lao động. Lạng Sơn đang phải đối mặt với tình trạng lao động có trình độ và tay nghề chuyển đến các trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam.
Nguồn lực về đất đai là yếu tố dồi dào của Lạng Sơn, nhưng đất đai có thể khai thác hiệu quả về kinh tế không nhiều. Đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, có độ dốc dưới 3o chỉ 6 Báo cáo điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Lạng Sơn đến năm 2010 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.009ha, chiếm 6,8% tổng diện tích tự nhiên của Tỉnh. Diện tích đất chưa sử dụng 271.896,21ha, tương đương 32,66% diện tích tự nhiên của Tỉnh Lạng Sơn. Do địa hình Lạng Sơn phức tạp, đất có độ dốc trung bình trên 15o có diện tích 623.381,41ha, chiếm 75% diện tích tự nhiên, chỉ thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp, khoanh nuôi, trồng rừng.
Với sự dồi dào về đất, lâm nghiệp là thế mạnh rất lớn của Lạng Sơn và sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn của trong tương lai. Hiện giá trị sản xuất lâm nghiệp chỉ chiếm 4,89% trong tổng giá trị sản xuất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn năm 2008 Lạng Sơn. Tài nguyên khoáng sản là một trong những lý do chính để người Pháp làm đường bộ (năm 1885) và đường sắt (năm 1890) lên Lạng Sơn.