Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Công nghiệp đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế quốc dân, là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉnh Ninh Bình thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, sở hữu vị trí địa lý thuận lợi cùng nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú (đặc biệt là trữ lượng lớn đá vôi phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng), tạo điều kiện phát triển kinh tế công nghiệp. Tuy nhiên, sau thời kỳ tái lập tỉnh (từ năm 1992), Ninh Bình vẫn là địa phương có xuất phát điểm thuần nông, quy mô kinh tế nhỏ bé, năng lực cạnh tranh chưa cao, việc thu hút vốn đầu tư và hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp còn nhiều hạn chế. Nhằm làm rõ vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng tại địa phương trong việc định hướng và giải quyết các điểm nghẽn kinh tế, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam với đề tài: "Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015".
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ chủ trương và quá trình chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đối với lĩnh vực phát triển kinh tế công nghiệp giai đoạn 2005 - 2015, từ đó đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử. Để đạt được mục tiêu này, đề tài xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nắm được những yếu tố chủ yếu tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015.
- Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về phát triển kinh tế công nghiệp ở tỉnh từ năm 2005 đến năm 2015.
- Đưa ra nhận xét khách quan, khoa học về ưu điểm và hạn chế, từ đó đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu trong quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp giai đoạn 2005 - 2015.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào chủ trương, nghị quyết và các hoạt động chỉ đạo cụ thể hóa phát triển kinh tế công nghiệp của Đảng bộ tỉnh.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2005 - 2015 (có khảo sát bước đầu thực trạng kinh tế công nghiệp trước năm 2005 để tạo cơ sở so sánh lịch sử).
- Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Ninh Bình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, kết hợp quan điểm, đường lối phát triển công nghiệp được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) và Đại hội XI (2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khung pháp lý và chỉ đạo trực tiếp của địa phương bao gồm: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIX (2005), lần thứ XX (2010), lần thứ XXI (2015); Nghị quyết số 25/2010/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh; Quyết định số 1556/2006/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình về cơ chế ưu đãi đầu tư; Đề án số 02/ĐA-UBND năm 2013 về điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển khu công nghiệp; cùng các văn bản chỉ đạo thi hành Chỉ thị số 07/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng là:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, có hệ thống quá trình hình thành chủ trương và từng bước triển khai chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình theo tiến trình thời gian từ năm 2005 đến năm 2015.
- Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa mối quan hệ giữa chủ trương của Trung ương với sự vận dụng tại địa phương, từ đó rút ra các nhận định khoa học và bài học kinh nghiệm.
- Các phương pháp bổ trợ: Thống kê, so sánh dữ liệu kinh tế - xã hội, tổng hợp số liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Ninh Bình và các cơ quan chuyên môn liên quan.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hệ thống văn kiện Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, tài liệu lưu trữ của Tỉnh ủy Ninh Bình, số liệu điều tra dân số và thống kê kinh tế của tỉnh giai đoạn 1992 - 2015, kết hợp tham khảo các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng bộ và các luận văn, kỷ yếu khoa học có liên quan đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Các yếu tố chủ yếu tác động đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Chương 1 phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước cùng các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của Ninh Bình tác động trực tiếp đến công tác lãnh đạo kinh tế công nghiệp.
Về bối cảnh quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa thông qua các tổ chức APEC, EU, NAFTA, WTO mở ra cơ hội tiếp nhận công nghệ và thu hút vốn đầu tư, song cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2008 cũng tạo sức ép lớn lên thị trường xuất khẩu và chuỗi cung ứng. Ở trong nước, giai đoạn 2000 - 2010 duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7,26%/năm, tạo nền tảng vĩ mô thuận lợi nhưng cũng đặt ra yêu cầu khắc phục nguy cơ tụt hậu kinh tế.
Về điều kiện tự nhiên và tài nguyên, tỉnh Ninh Bình có diện tích 1.378,1 km², chia thành 8 đơn vị hành chính (thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp và 6 huyện: Hoa Lư, Nho Quan, Gia Viễn, Yên Khánh, Kim Sơn, Yên Mô) với 3 tiểu vùng địa hình: đồi núi (chiếm gần 30%), đồng bằng trung tâm (chiếm gần 40%) và đồng bằng, bãi bồi ven biển (chiếm trên 30%). Tỉnh có trữ lượng đá vôi lớn trên 1,2 vạn ha (chạy dài hơn 40 km), khoảng 2,3 tỷ tấn đá đôlômit (hàm lượng MgO từ 17% - 19%), mỏ sét, than bùn (2,6 triệu tấn) và nguồn nước khoáng Cúc Phương, Kênh Gà. Hệ thống giao thông đồng bộ (Quốc lộ 1A, 10, 12A, 12B, đường sắt Bắc - Nam, cảng Ninh Phúc, cảng Khánh An, cửa Đáy) tạo tiền đề liên kết sản xuất và vận tải nguyên vật liệu.
Về dân số và lao động, theo số liệu điều tra năm 2009, dân số toàn tỉnh đạt 898.459 người, mật độ 642 người/km². Lực lượng lao động trong các ngành kinh tế đạt khoảng 587,5 nghìn người. Cơ cấu lao động công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng áp đảo 94,1% (102.087 lao động), công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước chiếm 3,3%, công nghiệp khai khoáng chiếm 2,6%.
Bảng: Biến động vốn đầu tư phát triển qua các thời kỳ trước năm 2005 tại tỉnh Ninh Bình
| Thời kỳ |
Tổng vốn đầu tư (tỷ đồng) |
Tỷ trọng đầu tư nông nghiệp (%) |
Vốn đầu tư công nghiệp (tỷ đồng) |
Tỷ trọng đầu tư công nghiệp (%) |
| 1986 - 1991 |
30,7 (năm 1991) |
84,6% |
- |
Thấp |
| 1992 - 1995 |
413,7 |
Giảm dần |
97,0 |
23,4% |
| 1996 - 2000 |
1.115,8 |
Tiếp tục giảm |
384,4 |
34,4% |
Mặc dù tỷ trọng khu vực II (công nghiệp và xây dựng cơ bản) tăng từ 18,7% (năm 1991) lên 23,2% (năm 2000), trước năm 2005 kinh tế công nghiệp Ninh Bình vẫn còn bộc lộ 4 điểm nghẽn lớn: cơ cấu công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp hơn nông nghiệp; giá trị xuất khẩu chủ yếu qua ủy thác; thu hút FDI và giải phóng mặt bằng khu công nghiệp chậm; hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp chưa hoàn chỉnh.
Chương 2: Chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình từ năm 2005 đến năm 2015
Chương 2 trình bày sự phát triển hệ thống quan điểm qua 3 kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh và các mũi chỉ đạo thực tiễn cụ thể:
1. Hệ thống chủ trương qua các kỳ Đại hội:
- Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX (2005): Đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 14,5%/năm trở lên, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 26%/năm, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng đạt 48% vào năm 2010. Xác định công nghiệp vật liệu xây dựng là mũi nhọn (xi măng đạt trên 6 triệu tấn/năm, thép 300 nghìn tấn, điện sản xuất 1.800 triệu kWh, phân đạm 50 vạn tấn).
- Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX (2010): Xác định tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng bình quân đạt 15%/năm (riêng công nghiệp đạt 16%/năm). Định hướng chuyển dịch sang thu hút dự án công nghệ cao, công nghệ sạch, khai thác thế mạnh kinh tế biển Kim Sơn và đưa các dự án trọng điểm (Phân đạm Ninh Bình, cán thép, ô tô Thành Công) vào vận hành.
- Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI (2015): Xác định tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng bình quân 13%/năm (công nghiệp 16%/năm), khu vực công nghiệp - xây dựng đóng góp khoảng 48% GRDP vào năm 2020; ưu tiên công nghiệp hỗ trợ (lắp ráp ô tô, điện tử, da giày, may mặc).
2. Quá trình chỉ đạo triển khai thực tiễn:
- Chỉ đạo nhiệm vụ phát triển: Ban hành Nghị quyết số 25/2010/NQ-HĐND tập trung giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp, quản lý vốn xây dựng cơ bản, ưu tiên nhóm sản phẩm giá trị lớn (lắp ráp ô tô, linh kiện điện tử, cơ khí).
- Cải cách thủ tục hành chính: Thực hiện Quyết định số 1556/2006/QĐ-UBND theo cơ chế một cửa tại Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh; khống chế thời gian thẩm tra dự án đầu tư không quá 20 ngày, cấp Giấy chứng nhận đầu tư vào khu công nghiệp không quá 3 ngày (khu du lịch không quá 5 ngày); thủ tục giao nhận đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp không quá 5 ngày. Khen thưởng xúc tiến đầu tư hiệu quả tối đa 50 triệu đồng/dự án.
- Quy hoạch, quản lý khu và cụm công nghiệp: Triển khai Văn bản số 154/UBND-VP4, rà soát hiệu quả sử dụng đất theo Chỉ thị 07/CT-TTg; ban hành Đề án số 02/ĐA-UBND (2013) điều chỉnh bổ sung quy hoạch các khu công nghiệp: Gián Khẩu, Ninh Phúc, Phúc Sơn, Khánh Cư, Khánh Phú, Tam Điệp.
- Ban hành chính sách ưu đãi đầu tư và khuyến công: Áp dụng khung giá thuê đất, thuê mặt nước thấp nhất theo quy định; hỗ trợ 100% kinh phí giải phóng mặt bằng trong hàng rào dự án; ngân sách cấp tối thiểu 5 tỷ đồng/năm cho Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh; các ngân hàng thương mại quốc doanh giảm lãi suất vay từ 5% đến 10%, giảm 10% - 15% phí thông tin phòng ngừa rủi ro; hỗ trợ đào tạo nghề tối đa 2 triệu đồng/lao động. Nguồn kinh phí khuyến công (4,25 tỷ đồng thực hiện 29 đề án) hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, công nhận 83 làng nghề truyền thống và 18 nghệ nhân cấp tỉnh.
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Chương 3 tổng kết các thành tựu, hạn chế và chỉ ra các bài học lịch sử:
1. Ưu điểm và nguyên nhân:
- Ưu điểm: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2005 - 2010 đạt 28,4%/năm (vượt chỉ tiêu 26,0%); GDP bình quân đầu người tăng 16,5%/năm (vượt chỉ tiêu 14,5%). Giai đoạn 2010 - 2015, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 19,0%/năm (cao hơn mục tiêu 3,0%), tổng giá trị sản xuất năm 2015 đạt trên 20,66 tỷ đồng (theo giá so sánh 1994, gấp 2,4 lần năm 2010). Vốn đầu tư toàn xã hội bình quân đạt gần 20,7 nghìn tỷ đồng/năm. Toàn tỉnh đã công nhận 83/257 làng nghề, giá trị sản xuất làng nghề chiếm 19% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.
- Nguyên nhân ưu điểm: Có sự chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời từ Trung ương; Đảng bộ tỉnh biết kế thừa kinh nghiệm các thời kỳ trước; sự đồng thuận, nỗ lực của nhân dân và doanh nghiệp; sự chuyển biến trong năng lực quản trị, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ ngành công thương.
2. Hạn chế và nguyên nhân:
- Hạn chế: Nhận thức về vai trò công nghiệp hóa ở một số cấp ủy cơ sở chưa đồng đều; công tác quản lý quy hoạch và đầu tư xây dựng hạ tầng còn dàn trải, kéo dài; việc chuyển giao công nghệ cao chưa đáp ứng yêu cầu; cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp còn chênh lệch lớn; chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật còn thấp.
- Nguyên nhân hạn chế: Nền tảng kinh tế ban đầu thấp; tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế thế giới và thiên tai; việc ban hành quy hoạch sử dụng đất còn chậm trễ; phương thức chỉ đạo tại một số đơn vị còn mang tính thụ động, thiếu kiểm tra, đôn đốc.
3. Ba bài học kinh nghiệm chủ yếu:
- Thứ nhất: Vận dụng sáng tạo, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
- Thứ hai: Kết hợp chặt chẽ việc phát huy nội lực (khoáng sản đá vôi, vị trí cửa ngõ giao thông, quỹ đất công nghiệp) với tích cực huy động ngoại lực (thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp như Xuân Thành, Xuân Trường, Nieshing, Thành Công).
- Thứ ba: Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ tỉnh, nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ quản lý kinh tế, đẩy mạnh cải cách hành chính và củng cố sự đồng thuận của nhân dân.
Kết quả và đóng góp
Bảng: Tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế công nghiệp tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005 - 2015
| Chỉ tiêu theo dõi |
Giai đoạn 2005 - 2010 (Mục tiêu / Thực tế) |
Giai đoạn 2010 - 2015 (Mục tiêu / Thực tế) |
| Tăng trưởng GDP bình quân |
14,5% / 16,5% (Vượt chỉ tiêu) |
- / 11,7% (Gấp 2 lần bình quân cả nước) |
| Tăng GTSX công nghiệp bình quân |
26,0% / 28,4% (Vượt chỉ tiêu) |
16,0% / 19,0% (Vượt chỉ tiêu) |
| Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng |
Đạt 48% GDP năm 2010 |
Đóng góp khoảng 48% GRDP năm 2020 |
| Làng nghề được công nhận |
- |
83 / 257 làng nghề (Chiếm 19% GTSX CN) |
| Vốn đầu tư toàn xã hội |
- |
~20,7 nghìn tỷ đồng/năm |
Về giải pháp và kiến nghị, tác giả khẳng định sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính, tập trung vốn ngân sách cho công tác giải phóng mặt bằng, quản lý khai thác khoáng sản gắn liền với bảo vệ môi trường và đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn chuyển đổi sang công nghiệp.
Về đóng góp học thuật, khóa luận đã hệ thống hóa một cách toàn diện và có căn cứ lịch sử về các chủ trương, nghị quyết và văn bản chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong lĩnh vực kinh tế công nghiệp suốt 10 năm (2005 - 2015). Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng phân tích có hệ thống mối tương quan giữa sự lãnh đạo của Tỉnh ủy với kết quả phát triển công nghiệp địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chủ yếu dựa vào các văn kiện chính thống, báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Tỉnh ủy và số liệu thống kê hành chính, chưa đi sâu khảo sát định lượng độc lập về mức độ hài lòng của các doanh nghiệp FDI hoặc tác động môi trường cụ thể tại từng khu công nghiệp tập trung.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn từ năm 2015 đến nay, tập trung phân tích quá trình chuyển dịch mô hình công nghiệp từ chiều rộng sang chiều sâu (công nghiệp ô tô, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp sạch) và đánh giá chi tiết tính bền vững sinh thái trong phát triển công nghiệp gắn với du lịch di sản tại tỉnh Ninh Bình.
Giá trị tham khảo
Công trình là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Quản lý kinh tế và Giáo dục chính trị.
Đối với các nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách địa phương, nội dung Chương 2 và Chương 3 là phần đáng tham khảo nhất, cung cấp các cứ liệu thực tế về việc thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư (Quyết định 1556/2006/QĐ-UBND) và bài học xử lý mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng công nghiệp với năng lực quản lý nhà nước tại một tỉnh đồng bằng - bán sơn địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục tiêu sản lượng đối với các sản phẩm công nghiệp mũi nhọn của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005 - 2010 được đề ra như thế nào?
Theo Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, mục tiêu đến năm 2010 bao gồm: sản lượng xi măng đạt từ 6 triệu tấn/năm trở lên; sản lượng thép đạt 300 nghìn tấn (tăng 137 nghìn tấn); điện sản xuất đạt 1.800 triệu kWh (tăng 1.010 triệu kWh); sản lượng phân đạm đạt 50 vạn tấn; đưa tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 gấp 3,2 lần so với năm 2005.
2. Chính sách cải cách thủ tục hành chính đầu tư theo Quyết định số 1556/2006/QĐ-UBND quy định thời hạn giải quyết hồ sơ ra sao?
Thời gian thẩm tra dự án đầu tư được khống chế không quá 20 ngày; cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với khu công nghiệp không quá 3 ngày (khu du lịch không quá 5 ngày); thủ tục thuê đất, giao nhận đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp không quá 5 ngày (khu du lịch không quá 20 ngày); chấp thuận hồ sơ thiết kế kỹ thuật không quá 5 ngày.
3. Tỉnh Ninh Bình đã áp dụng các chính sách tài chính - tín dụng cụ thể nào để ưu đãi thu hút đầu tư vào khu công nghiệp?
Nhà đầu tư được áp dụng mức giá thuê đất và mặt nước thấp nhất theo khung quy định; ngân sách nhà nước cấp 100% kinh phí giải phóng mặt bằng trong hàng rào dự án; các ngân hàng thương mại quốc doanh giảm từ 5% đến 10% lãi suất vay vốn so với khách hàng thông thường; giảm 10% - 15% phí cung cấp thông tin phòng ngừa rủi ro; hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề tối đa 2 triệu đồng/lao động và giảm 50% chi phí quảng cáo trên báo, đài địa phương trong 3 năm đầu.
4. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp thực tế của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2005 - 2010 và 2010 - 2015 đạt bao nhiêu?
Giai đoạn 2005 - 2010, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân đạt 28,4%/năm (vượt mục tiêu 26,0%). Giai đoạn 2010 - 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 19,0%/năm (vượt mục tiêu 16,0%), đưa tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 ước đạt trên 20,66 tỷ đồng theo giá cố định 1994 (gấp 2,4 lần so với năm 2010).
5. Cơ cấu lao động trong nội bộ ngành công nghiệp tỉnh Ninh Bình phân bổ như thế nào?
Theo thống kê trong văn bản, ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lao động lớn nhất với 102.087 người (đạt 94,1%), tiếp theo là ngành sản xuất, phân phối điện, nước và xử lý rác thải chiếm trên 3,3%, ngành công nghiệp khai khoáng chiếm khoảng 2,6%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Loan đã tái hiện chân thực và có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015. Công trình làm rõ sự vận dụng đường lối đổi mới của Trung ương vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương thông qua các quyết sách đẩy mạnh cải cách hành chính, quy hoạch khu công nghiệp và ban hành cơ chế ưu đãi đầu tư. Những kết quả tăng trưởng công nghiệp vượt chỉ tiêu đề ra cùng hệ thống bài học kinh nghiệm được đúc kết là nguồn tư liệu có giá trị cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng bộ và quản trị kinh tế địa phương.