CHƯƠNG 1 CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1. Lý luận chung về chính sách công nghiệp 1. Khái niệm và vai trò của chính sách cong nghiệp: 1. Khai niệm Trên phạm vi thế giới, thuật ngữ “chính sách công nghiệp” mới chỉ xuất hiện từ sau Chiến tranh thế giới II, khi mà Chính phủ Nhật Bản ban hành một loạt các chính sách để tái thiết nền kinh tế và phát triển công nghiệp sau khi bị chiến tranh tàn phá nặng nề.
Tiếp theo đó, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nước khác cũng đề ra các chính sách riêng của mình để khôi phục và phát triển công nghiệp. Vì thuật ngữ này được sử dụng phổ biến chỉ ở một số nước nên chưa có một định nghĩa chuẩn, thống nhất về chính sách công nghiệp. Một số người cho rằng chính sách công nghiệp là những chính sách được nhằm vào ngành công nghiệp, một số khác lại cho rằng chính sách công nghiệp là những chính sách liên quan đến việc khuyến khích và tổ chức lại các ngành công nghiệp riêng biệt nào đó. [50,58] Tuy nhiên, có một số khái niệm về chính sách công nghiệp được sử dụng tương đối rộng rãi và thống nhất là khái niệm của Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế của Nhật Bản, khái niệm của một số học giả Nhật Bản, và đối với Việt Nam thì các nhà kinh tế và hoạch định chính sách cũng đưa ra quan niệm riêng của mình.
Theo Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế của Nhật Bản, chính sách công nghiệp bao gồm những biện pháp mang tính bổ sung được dựa trên nguyên tắc thị trường, nhằm giải quyết những vấn để bất ổn định của thị trường như ô nhiễm môi trường, xung đột về mậu dịch, hoạt động nghiên cứu và triển khai có quy mô lớn, và những bất ổn định trong cung cấp năng lượng, đồng thời khuyến khích việc chuyển dịch công nghiệp và đi chuyển lao động một cách thuận lợi mà không gây mâu thuẫn về mặt xã hội.[50,59 - 60] 6 Một số học giả Nhật Bản lại cho rằng chính sách công nghiệp là chính sách nhằm tác động tới phúc lợi kinh tế của một quốc gia thông qua việc Chính phủ can thiệp vào lĩnh vực phân bổ các nguồn lực giữa các ngành, các khu vực của một quốc gia và can thiệp vào tổ chức sản xuất của các ngành/ khu vực nào đó. Theo quan điểm này, chính sách công nghiệp vừa bao gồm chính sách có tác động liên ngành, vừa bao gồm chính sách có tác động tới nội bộ một ngành [50,60]. Các quan niệm về chính sách công nghiệp trên có nhiều điểm không phù hợp với tình hình phát triển của Việt Nam. Vì thế, các nhà kinh tế và hoạch định chính sách của Việt Nam lại đưa ra một quan niệm khác về chính sách công nghiệp.
Theo họ, chính sách công nghiệp là một hệ thống các chính sách, nguyên tắc và biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng như một công cụ để điều chỉnh các hoạt động công nghiệp của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó [30,1 I]. Trên cơ sở quan niệm đó, chính sách công nghiệp bao gồm việc định rõ các ngành công nghiệp cụ thể sẽ được khuyến khích và những chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp đã được lựa chọn thông qua hệ thống các công cụ. Đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia thường không đổi trong một thời gian dài, nhưng với từng giai đoạn phát triển cụ thể, nhiệm vụ của chính sách công nghiệp có thể thay đổi nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động công nghiệp theo hướng có hiệu quả hơn cho sự phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước để chuyển nền kinh tế từ trạng thái phát triển thấp sang phát triển cao hơn, từ nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế văn minh hiện đại, từ nền kinh tế đang phát triển sang nền kinh tế phát triển. Chính sách công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích công nghiệp phát triển và là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nên kinh tế trong từng thời kỳ nhất định.
Phan loat: Chính sách công nghiệp là một hệ thống chính sách nên nó được phân chia theo nhiều tiêu chí: -_ Nếu phân chia theo tác động thì chính sách công nghiệp được chia thành những chính sách tác động trong nội bộ các ngành công nghiệp và những chính sách có tác động liên ngành. Chính sách công nghiệp có tác động trong nội bộ ngành là những chính sách được đưa ra để khuyến khích hay hạn chế một ngành công nghiệp nào đó phát triển. Chính sách công nghiệp có tác động liên ngành là những chính sách được đưa ra không chỉ có ảnh hưởng tới một ngành công nghiệp nào đó mà có thể tác động tới các ngành công nghiệp khác hoặc tác động tới lĩnh vực sản xuất khác. -_ Nếu dựa vào mục tiêu thì có rất nhiều cách phân loại: Các nhà kinh tế Nhật Bản chia ra thành các chính sách [50,62]: + Chính sách nhằm hình thành cơ sở hạ tầng cho tất cả các ngành công nghiệp thông qua Nhà nước hỗ trợ vốn để xây dựng hệ thống đường xá, cầu cảng công nghiệp, nhà máy điện - nước.
+ Chính sách nhằm phân bổ nguồn lực giữa các ngành công nghiệp thông qua việc Nhà nước trợ cấp và bảo hộ cho một số ngành mũi nhọn. + Chính sách nhằm cơ cấu lại một số ngành công nghiệp thông qua việc Nhà nước trợ giúp một số ngành công nghiệp “tổ chức lại” cơ cấu của mình, liên kết với nhau khi gặp khó khăn. + Chính sách giải quyết những vấn để của các công ty vừa và nhỏ. Ngân hàng thế giới (WB) lại đưa ra cách phân loại theo mục tiêu khác với các nhà kinh tế Nhật Bản [60,63]: + Chính sách nhằm hỏ trợ các ngành công nghiệp như chính sách hỗ trợ tang trưởng cho ngành thép, điện tử.
+ Chính sách vẻ điều chỉnh công nghiệp như cải cách cơ cấu công nghiệp dệt, đóng tàu. + Các chính sách khác như chính sách thúc đẩy sự phát triển công nghệ. Vai trò của chính sách công nghiệp: Là chính sách ngành nên chính sách công nghiệp là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để phát triển các ngành công nghiệp trên cơ sở phân bổ lại nguồn lực giữa các ngành và các doanh nghiệp trong ngành. Do đó, chính sách công nghiệp có những vai trò quan trọng: - Chính sách công nghiệp được sử dụng để đưa ra định hướng về các ngành công nghiệp cần được ưu tiên phát triển, từ đó có làm cơ sở để phát triển nên kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện trong nước và quốc tế.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã cho thấy rằng một quốc gia muốn phát triển phải dựa trên sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp. Tuy nhiên, một quốc gia không bao giờ có đủ nguồn lực để có thể đầu tư phát triển tất cả các ngành công nghiệp mà chỉ có thể chú trọng phát triển một số ngành. Những ngành công nghiệp mà một nước lựa chọn để phát triển sẽ được xem xét trên cơ sở lợi thế so sánh tĩnh hoặc lợi thế so sánh động cũng như mức độ phát triển kinh tế và công, nghiệp của quốc gia đó. Một nước công nghiệp phát triển thường chú trọng vào những ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật và chất xám cao (chú trọng vào lợi thế so sánh động) còn các nước đang phát triển, nhất là đối với những nước đang tiến hành quá trình công nghiệp hoá thì những ngành công nghiệp được chọn lựa thường là những ngành sử dụng được lợi thế so sánh tĩnh, hoặc kết hợp giữa lợi thế so sánh tĩnh và lợi thế so sánh động ở một mức độ nhất định.
- Nhà nước sử dụng chính sách công nghiệp để điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành công nghiệp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đối với các nước phát triển, chính sách công nghiệp chủ yếu hướng vào việc hỗ trợ các ngành công nghiệp đang bị suy giảm nhằm đưa các ngành đó tiếp tục phát triển ổn định và hỗ trợ các ngành công nghiệp công nghệ cao để tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các quốc gia phát triển khác. Đối với các nước đang phát triển, thông qua các ngành công nghiệp được lựa chọn, nhà nước sẽ đưa ra các chính sách đầu tư phát triển các ngành đó và từ đó dần dần chuyển dịch được cơ cấu nền kinh tế. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nước dang phát triển vì chính sách công nghiệp sẽ giúp chuyển 9 dịch cơ cấu của nền kinh tế cũng như trong nội bộ lĩnh vực công nghiệp.
Trên phương diện nên kinh tế, chính sách công nghiệp sẽ đưa tới sự chuyển dịch nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế. Trên phương diện nội bộ lĩnh vực công nghiệp, chính sách phát triển những ngành công nghiệp ưu tiên sẽ giúp cho quốc gia chuyển từ cơ cấu những ngành công nghiệp khai thác, sơ chế sang những ngành công nghiệp chế tác, công nghiệp công nghệ cao. Mặt khác, từ việc chuyển dịch được cơ cấu nền kinh tế và cơ cấu nội bộ lĩnh vực công nghiệp thì chính sách công nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá ở các nước đang phát triển. - Chính sách công nghiệp được kết hợp với các chính sách kinh tế khác để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh các mục tiêu về kinh tế như tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, kiểm chế lạm phát, cải thiện cán cân thanh toán, tăng cường các mối quan hệ kinh tế quốc tế., các quốc gia còn có những mục tiêu về xã hội như công bằng, dân chủ, chất lượng cuộc sống được đảm bảo. Cùng với các chính sách kinh tế khác, chính sách công nghiệp góp phần thúc đẩy một đất nước đạt tới các mục tiêu về kinh tế và xã hội. Chính sách công nghiệp thúc đẩy công nghiệp phát triển và do đó góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân bình quân đầu người, cải thiện cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, cũng giống như các chính sách kinh tế khác, chính sách công nghiệp cũng có thể làm hạn chế việc đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội như việc làm ô nhiễm môi trường, gây ách tắc giao thông.