Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang sở hữu diện tích rừng đặc dụng rộng lớn lên tới 5.675 ha, nơi cư trú của 786 loài thực vật cùng 226 loài động vật thuộc 81 họ. Địa phương này còn là không gian sinh sống lâu đời của 3.298 người dân tại xã An Lạc thuộc các dân tộc Kinh, Tày, Cao Lan, Sán Chí, hòa cùng bức tranh văn hóa đa dạng của 67.900 nhân khẩu thuộc 13 dân tộc trên toàn huyện Sơn Động. Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên sinh thái và văn hóa phong phú, việc khai thác giá trị kinh tế phục vụ xóa đói giảm nghèo tại đây vẫn còn manh mún, chưa phát huy được tiềm năng nội tại của cộng đồng bản địa.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là làm thế nào để người dân vùng sâu, vùng xa có thể trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ, làm giàu bền vững trên chính quê hương mà không phá vỡ cảnh quan sinh thái nguyên sơ hay làm mai một bản sắc văn hóa truyền thống. Đề tài tập trung giải quyết ba mục tiêu trọng tâm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh doanh du lịch cộng đồng; khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật cùng năng lực tham gia của cư dân địa phương; xây dựng hệ thống định hướng và giải pháp khả thi nhằm phát triển các mô hình kinh doanh dịch vụ phù hợp.

Phạm vi nghiên cứu không gian được giới hạn tại vùng lõi và vùng đệm rừng nguyên sinh Khe Rỗ thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2005 - 2010, kết hợp khảo sát thực địa trực tiếp vào năm 2012 và đề xuất giải pháp định hướng ứng dụng đến năm 2015. Ý nghĩa của công trình thể hiện rõ qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, nâng cao mức thu nhập bình quân từ mức canh tác nông lâm nghiệp đơn thuần (vốn chỉ đạt doanh thu khoảng 50 - 60 triệu đồng cho 1 ha rừng trồng sau chu kỳ 5 năm) sang mô hình kinh tế dịch vụ du lịch đa giá trị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết du lịch bền vững và lý thuyết du lịch dựa vào cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT), kết hợp khung phân tích chuỗi giá trị dịch vụ du lịch tại các điểm đến sinh thái. Du lịch cộng đồng được định vị là loại hình du lịch thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo, trong đó người dân địa phương trực tiếp tham gia quản lý, vận hành các dịch vụ quy mô vừa và nhỏ nhằm tạo nguồn thu nhập thay thế, đồng thời tái đầu tư bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ sự khác biệt bản chất giữa mô hình Homestay và Host Family. Homestay được tiếp cận như một sản phẩm du lịch trải nghiệm hoàn chỉnh bao gồm ăn uống, lưu trú, sinh hoạt văn hóa và hướng dẫn trải nghiệm, khác với Host Family chỉ thuần túy là cơ sở cho thuê chỗ ngủ bình dân. Mô hình nghiên cứu tích hợp 4 nhóm điều kiện tiên quyết để phát triển kinh doanh du lịch: tài nguyên du lịch (thiên nhiên và nhân văn), điều kiện tổ chức quản lý (bộ máy quản lý vĩ mô và vi mô), hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, nước sạch, viễn thông, môi trường), và năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật cùng nhân lực bản địa (thái độ, kỹ năng, kiến thức, phân chia lao động công bằng).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) để tiến hành điều tra xã hội học trực tiếp trong năm 2012 tại xã An Lạc, huyện Sơn Động. Khảo sát tập trung vào toàn bộ danh sách các hộ gia đình có nguyện vọng và tiềm năng khởi sự kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn xã, kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử và các chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật từ tổ chức phi chính phủ GTV (Gruppo Trentino di Volontariato). Cỡ mẫu khảo sát thực địa được thiết lập nhằm thu thập đầy đủ các biến số về trình độ học vấn, cơ cấu thu nhập, nhận thức văn hóa ứng xử và định hướng lựa chọn loại hình kinh doanh của người dân bản địa.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các báo cáo thống kê định kỳ của UBND huyện Sơn Động giai đoạn 2005 - 2010, tiêu biểu như số liệu 6 tháng đầu năm 2011 với giá trị sản xuất các ngành chủ chốt đạt 299,1 tỷ đồng (tăng 28,1% so với cùng kỳ năm 2010) và diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 140 ha với sản lượng 77 tấn. Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu với các mô hình du lịch homestay điển hình tại vùng Tây Bắc (Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên) và kinh nghiệm quốc tế (Thái Lan, Ấn Độ, Nam Phi, Úc). Việc lựa chọn phương pháp phân tích này giúp nhận diện chính xác khoảng cách giữa năng lực hiện tại của cư dân địa phương và các tiêu chuẩn dịch vụ du lịch thực tế, từ đó thiết lập những giải pháp thích ứng có tính khả thi cao nhất. Toàn bộ lộ trình thu thập và xử lý thông tin được triển khai hoàn tất trong năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu thứ cấp tại điểm du lịch Khe Rỗ làm sáng tỏ 4 nhóm phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, tài nguyên thiên nhiên và nhân văn vô cùng trù phú nhưng cơ sở lưu trú thương mại đạt chuẩn hoàn toàn bằng không. Rừng Khe Rỗ có độ cao chênh lệch từ 600 m đến 700 m, nhiệt độ mùa hè mát mẻ duy trì từ 24°C đến 28°C, sở hữu các thắng cảnh đặc sắc như hồ nước Vũng Tròn, đỉnh Khau Tron (cách Vũng Tròn 3 km đường dốc), suối Khe Vàng (cách 15 km) và thác Ba Tia (cách 2 km). Tuy nhiên, trên địa bàn Khe Rỗ không có bất kỳ khách sạn xếp sao nào. Dịch vụ lưu trú chỉ tồn tại dưới dạng 2 đến 3 nhà nghỉ tư nhân ngoài thị trấn An Châu (cách khu vực rừng 20 km) với mức giá khoảng 200.000 đồng/phòng/đêm, 01 nhà nghỉ tại Vân Sơn và hoạt động ngủ nhờ tự phát tại nhà dân với mức hỗ trợ tự nguyện khoảng 50.000 đồng/khách/đêm hoặc trạm gác kiểm lâm tại Vũng Tròn với vỏn vẹn 02 giường cá nhân.

Thứ hai, dịch vụ ăn uống và sản phẩm bổ trợ chưa hình thành chuỗi liên kết thương mại. Toàn huyện chỉ có duy nhất 01 nhà hàng Huấn Vinh tại thị trấn An Châu đáp ứng được quy mô phục vụ khoảng 200 khách, cùng 3 đến 5 quán ăn bình dân với sức chứa nhỏ từ 15 đến 20 khách. Tại vùng lõi Khe Rỗ, 100% du khách phải tự mang theo thực phẩm từ đô thị hoặc nhờ trạm kiểm lâm chế biến thức ăn, chưa có cơ sở ăn uống chuyên trách khai thác các đặc sản bản địa như nấm hương, mật ong rừng, sâm ba kích hay rượu men lá.

Thứ ba, sự phân hóa mạnh mẽ về hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin. Mặc dù 100% hộ dân tại các thôn bản ngoài bìa rừng đã tiếp cận điện lưới quốc gia và sở hữu tivi, điểm dừng chân sâu trong rừng tại Vũng Tròn chỉ sử dụng máy phát điện sức nước nhỏ hẹp thắp sáng đúng 01 bóng điện. Mạng internet đạt tỷ lệ bao phủ 0% trong các hộ dân thôn bản Khe Rỗ, và hoàn toàn mất sóng điện thoại di động khi di chuyển vào vùng lõi rừng sâu.

Thứ tư, nhận thức của người dân mang tính tích cực cao nhưng thiếu hụt trầm trọng về kỹ năng thương mại. Đa số người dân bản địa thuộc các dân tộc Tày, Dao, Cao Lan, Sán Chí có thái độ thuần hậu, chân thành, hiếu khách, song 100% chưa từng trải qua đào tạo nghiệp vụ lữ hành, kỹ năng chế biến món ăn du lịch, quản lý tài chính kinh doanh hay giao tiếp ngoại ngữ cơ bản.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu trên được tổng hợp chi tiết thông qua các dạng bảng biểu và biểu đồ trực quan trong báo cáo học thuật. Cụ thể, dữ liệu khảo sát được mô hình hóa qua biểu đồ tròn phản ánh tỷ lệ cơ cấu nguyện vọng kinh doanh của người dân (phần lớn tập trung vào dịch vụ xe ôm, cung cấp nông sản và homestay), kết hợp cùng biểu đồ cột thể hiện các mức thu nhập bình quân và trình độ học vấn của người lao động tại xã An Lạc. Ma trận bảng biểu đánh giá chi tiết mức độ sẵn sàng về cơ sở hạ tầng chỉ rõ các điểm nghẽn nghiêm trọng nhất nằm ở hệ thống thu gom xử lý rác thải công cộng và nguồn nước sạch sinh hoạt tại các hộ gia đình (dù thôn Nà Ó đã được xây dựng trạm cấp nước sạch nhưng chưa vận hành đúng công suất).

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ việc thiếu vắng quy hoạch tổng thể và các cơ chế hỗ trợ tài chính vi mô từ các cơ quan quản lý nhà nước, khiến người dân bản địa dù có mong muốn nhưng không đủ vốn và kiến thức để tự khởi sự. Khi so sánh với các mô hình homestay thành công tại thôn Chì (Hà Giang - nơi người Tày chiếm 96% dân số và bảo tồn nguyên vẹn kiến trúc nhà sàn) hay mô hình phát triển du lịch tại Sa Pa (Lào Cai), Khe Rỗ đang đứng trước cơ hội lớn để đi tắt đón đầu. Tuy nhiên, nếu không có cơ chế quản lý điều phối chặt chẽ, điểm đến này rất dễ rơi vào vết xe đổ thương mại hóa tự phát, làm phá vỡ cảnh quan của 5.675 ha rừng nguyên sinh và làm xói mòn bản sắc văn hóa của 13 dân tộc anh em trên địa bàn huyện.

Đề xuất và khuyến nghị

Để biến tiềm năng thành sinh kế bền vững cho người dân địa phương, đề tài xây dựng 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, nâng cấp đồng bộ hạ tầng giao thông, mạng lưới điện và công nghệ thông tin. UBND tỉnh Bắc Giang phối hợp cùng Sở Giao thông Vận tải ưu tiên hoàn thiện nâng cấp toàn diện đoạn tuyến 20 km đường rừng nối từ quốc lộ 31 (thị trấn An Châu) vào trung tâm cửa rừng Khe Rỗ trước năm 2014, đảm bảo các dòng xe vận chuyển khách từ 4 đến 45 chỗ lưu thông thông suốt 100% trong mọi điều kiện thời tiết. Đồng thời, các doanh nghiệp viễn thông cần đầu tư lắp đặt trạm phát sóng di động và triển khai phủ sóng internet băng rộng đến trung tâm xã An Lạc nhằm đảm bảo liên lạc thông suốt cho khách du lịch và công tác quản lý bảo vệ rừng.

Thứ hai, chuẩn hóa và thí điểm mô hình Homestay bản địa gắn với bảo tồn kiến trúc truyền thống. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp UBND huyện Sơn Động hỗ trợ vốn vay ưu đãi và kỹ thuật cho 10 đến 15 hộ gia đình tại các bản vùng sâu như thôn Nà Trắng cải tạo nhà sàn gỗ truyền thống trước quý IV năm 2014. Mỗi cơ sở homestay phải đảm bảo chuẩn hóa khu vệ sinh tự hoại riêng biệt, trang bị đầy đủ đệm, chăn, màn sạch sẽ, hệ thống lọc nước sinh hoạt đạt chuẩn an toàn vệ sinh môi trường, sẵn sàng phục vụ các đoàn khách quy mô từ 15 đến 20 người/hộ.

Thứ ba, triển khai các chương trình tập huấn nâng cao năng lực nghề du lịch cho người dân bản địa. UBND huyện Sơn Động kết hợp cùng tổ chức GTV và các trường chuyên ngành du lịch tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn về kỹ năng lễ tân, buồng phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm và chế biến ẩm thực từ các nguồn nông sản, dược liệu tại chỗ (khai thác hiệu quả 255 loài dược liệu và sản vật rừng). Mục tiêu đến năm 2015 hoàn thành bồi dưỡng nghiệp vụ cho 100% lao động tham gia trực tiếp vào các tổ hợp dịch vụ du lịch cộng đồng tại xã An Lạc.

Thứ tư, thiết lập Ban điều phối du lịch cộng đồng và quy chế quản lý dịch vụ vận chuyển, quà lưu niệm. UBND xã An Lạc thành lập Ban quản lý du lịch cộng đồng cấp xã để điều phối nguồn khách, giám sát niêm yết giá công khai 100% đối với đội ngũ xe ôm bản địa và các cơ sở cung cấp dịch vụ, phân bổ doanh thu công bằng, tuyệt đối ngăn chặn hiện tượng chèo kéo, ép giá du khách. Xây dựng không gian trưng bày và bán các sản vật địa phương như mật ong rừng, sâm ba kích, thổ cẩm thủ công nhằm nâng cao tỷ trọng chi tiêu của khách du lịch tại điểm đến.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương, bao gồm Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, UBND huyện Sơn Động và UBND xã An Lạc. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén và khung giải pháp đồng bộ để xây dựng đề án quy hoạch tổng thể, ban hành chính sách phân bổ ngân sách hạ tầng và quản lý khai thác du lịch cộng đồng trên địa bàn giai đoạn 2015 - 2020.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Phát triển Nông thôn tại các trường đại học khối kinh tế và xã hội. Đề tài đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp khảo sát thực địa, đánh giá chuỗi dịch vụ và mô hình phát triển du lịch giảm nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp lữ hành, công ty tổ chức sự kiện và nhà đầu tư du lịch sinh thái. Nguồn dữ liệu phong phú về 5.675 ha rừng nguyên sinh cùng các thắng cảnh Vũng Tròn, thác Ba Tia, đỉnh Khau Tron giúp doanh nghiệp thiết kế các sản phẩm tour trekking, dã ngoại sinh thái, chương trình giáo dục môi trường cho học sinh, sinh viên với lộ trình và phương án dịch vụ tối ưu.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ (như GTV), các quỹ tài trợ phát triển cộng đồng và các hiệp hội du lịch. Báo cáo đánh giá năng lực cộng đồng trong luận văn hỗ trợ đắc lực cho việc thiết kế các dự án viện trợ sinh kế, tài trợ vốn vi mô và đào tạo nghề du lịch bền vững cho các cộng đồng vùng cao còn nhiều khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

Rừng Khe Rỗ sở hữu những lợi thế tài nguyên thiên nhiên nổi bật nào để phát triển du lịch sinh thái và cộng đồng? Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ có tổng diện tích 5.675 ha với hệ sinh thái rừng nhiệt đới trù phú gồm 786 loài thực vật và 226 loài động vật quý hiếm. Khí hậu mùa hè mát mẻ duy trì từ 24°C đến 28°C cùng cảnh quan suối hồ Vũng Tròn, đỉnh núi Khau Tron cao chênh lệch 600 - 700 m tạo điều kiện lý tưởng để phát triển các tour dã ngoại, nghiên cứu sinh học và trekking trải nghiệm.

Thực trạng cơ sở lưu trú phục vụ du khách tại khu vực Khe Rỗ trong giai đoạn nghiên cứu như thế nào? Cơ sở lưu trú thương mại đạt tiêu chuẩn tại vùng lõi Khe Rỗ hoàn toàn chưa xuất hiện. Khách tham quan chủ yếu lựa chọn nghỉ tại 2 đến 3 nhà nghỉ bình dân ngoài thị trấn An Châu cách xa 20 km với giá khoảng 200.000 đồng/phòng/đêm, hoặc lưu trú trải nghiệm tự phát tại nhà sàn của người dân bản địa với chi phí hỗ trợ khoảng 50.000 đồng/khách/đêm trong điều kiện tiện nghi còn rất đơn sơ.

Người dân bản địa tại xã An Lạc có những thuận lợi và khó khăn gì khi khởi sự kinh doanh du lịch cộng đồng? Thuận lợi lớn nhất là sự thuần hậu, thân thiện, hiếu khách cùng kho tàng văn hóa phi vật thể đặc sắc của các dân tộc Tày, Dao, Cao Lan, Sán Chí. Tuy nhiên, khó khăn then chốt là 100% người dân chưa từng được đào tạo kỹ năng nghề du lịch, thiếu hụt nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất ban đầu và chưa có kiến thức tiếp thị, tiếp cận khách hàng qua internet.

Mô hình homestay chuẩn mực tại Khe Rỗ cần đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật cơ bản nào? Cơ sở homestay cần giữ nguyên kiến trúc nhà sàn truyền thống, sử dụng vật liệu tự nhiên mộc mạc, bố trí không gian ngủ nghỉ sạch sẽ với đầy đủ đệm, chăn, màn ngăn côn trùng. Yếu tố bắt buộc là phải xây dựng nhà vệ sinh tự hoại riêng biệt, trang bị hệ thống nước lọc an toàn, kết hợp cung cấp dịch vụ ẩm thực bản địa và hoạt động giao lưu văn hóa trọn gói cho khách.

Giải pháp nào giúp phân chia lợi ích kinh tế công bằng và hạn chế xung đột trong cộng đồng làm du lịch? Địa phương cần thành lập Ban điều phối du lịch cộng đồng cấp xã nhằm quản lý luân phiên nguồn khách lưu trú giữa các hộ homestay, niêm yết mức giá thống nhất cho dịch vụ xe ôm, đồng thời trích lập quỹ phát triển cộng đồng từ doanh thu du lịch để tái đầu tư vào hệ thống xử lý rác thải, y tế và giáo dục cho toàn bộ dân cư trong thôn bản.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định tiềm năng to lớn của 5.675 ha rừng nguyên sinh Khe Rỗ và bản sắc văn hóa 13 dân tộc huyện Sơn Động trong việc phát triển du lịch cộng đồng xóa đói giảm nghèo.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng điểm đến với bức tranh hạ tầng còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là sự thiếu hụt 100% cơ sở lưu trú và nhà hàng đạt chuẩn tại vùng lõi rừng.
  • Xác lập hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật chi tiết cho 4 nhóm dịch vụ du lịch cộng đồng bao gồm homestay, ăn uống bản địa, vận chuyển xe ôm và bán sản vật lưu niệm.
  • Đề xuất lộ trình giải pháp đồng bộ kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư công của nhà nước (đường giao thông 20 km, điện, viễn thông) với nguồn lực hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ và sự chủ động của người dân.
  • Thiết lập khung giám sát quản lý cộng đồng nhằm đảm bảo chia sẻ lợi ích công bằng, ngăn chặn thương mại hóa tiêu cực và bảo tồn nguyên vẹn môi trường sinh thái nguyên sơ.

Công trình là bước đi tiên phong đặt nền móng học thuật và thực tiễn cho chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại huyện Sơn Động, mở ra hướng thoát nghèo bền vững cho đồng bào vùng sâu vùng xa tỉnh Bắc Giang. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nghiên cứu trong giai đoạn đến năm 2015 sẽ biến Khe Rỗ thành điểm sáng du lịch sinh thái cộng đồng tiêu biểu của vùng Đông Bắc, đòi hỏi sự chung tay hành động quyết liệt từ các cơ quan quản lý, doanh nghiệp lữ hành và toàn thể cộng đồng dân cư địa phương.