phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương: Chƣơng 1: Kiến thức thông tin với sinh viên trƣờng Đại học Y tế công cộng Chƣơng 2: Thực trạng phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trƣờng Đại học Y tế công cộng Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trƣờng Đại học Y tế công cộng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: KIẾN THỨC THÔNG TIN VỚI SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG 1.1 Những vấn đề chung về kiến thức thông tin 1.1 Khái niệm kiến thức thông tin Thuật ngữ “Kiến thức thông tin” (Information literacy) đã được đề cập đến từ những năm 70 của thế kỷ trước. Sự xuất hiện của thuật ngữ này gắn liền với xu thế bùng nổ thông tin tại thời điểm đó. Các nhà khoa học, mà chủ yếu là các nhà giáo dục, các chuyên gia thông tin – thư viện, hết sức quan tâm đến một lĩnh vực tri thức giúp con người làm chủ thế giới thông tin, làm chủ nguồn tri thức của nhân loại: đó chính là kiến thức thông tin (KTTT). Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh thế giới thông tin ngày càng trở nên phức tạp, nhất là hệ quả của sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của Internet.
Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), KTTT là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả”[35]. McKie, trong tài liệu của Cheek và các cộng sự đã khẳng định “KTTT là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm kiếm, tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả, cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời”[7; tr. Như vâ ̣y , có thể coi KTTT là một tổng hòa của các khối tri thức và kỹ năng liên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin , định vị nguồn tin , thẩm định nguồn tin , tổ chức nguồn tin , sử dụng nguồn tin mô ̣t cách có hiê ̣u quả trong hoa ̣t đô ̣ng của miǹ h. Người có KTTT là người có khả năng nhận biết khi nào cần thông tin , có khả năng xác định, đánh giá và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả.
KTTT vì thế là điều kiện quan trọng và cần thiết trong việ c nghiên cứu bất kỳ lĩnh vực nào. Đó là điều kiện tiên quyết cho việc học tập suốt đời và cho phép người học tham gia một cách chủ động và có phê phán vào nội dung học tập và mở rộng việc nghiên 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cứu, trở thành người có khả năng tự định hướng, tự kiểm soát tốt hơn quá trình học của mình. Khi các trường đại học ngày càng có xu hướng lồng ghép việc phát triển và đánh giá các kỹ năng này vào việc đào tạo ở bậc đại học, KTTT đã nổi lên như một vấn đề quan trọng trong việc đào tạo sinh viên, đặc biệt là cho những người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau. Cần hiểu rõ rằng KTTT không chỉ đơn thuần là những kỹ năng cần thiết để tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả, nó bao gồm cả những kiến thức về các thể chế xã hội và các quyền lợi do pháp luật quy định liên quan đến việc truy cập các nguồn thông tin.
Đây có lẽ là mảng kiến thức cần phải được đặc biệt nhấn mạnh trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ đang trở thành vấn đề toàn cầu. Ngoài ra, KTTT gắn liền với khả năng nghiên cứu độc lập và học tập suốt đời. Có nghĩa là, người có KTTT là người có khả năng tiếp cận và áp dụng tri thức một cách tích cực, chủ động, hiệu quả trong từng phạm vi hoạt động cụ thể của mình. Theo Hiệp hội các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa Kỳ (ACRL, 1989), người có KTTT là người “đã học được cách thức để học.
Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác có thể học tập được từ họ. Họ là những người đã được chuẩn bị cho khả năng học tập suốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động" [35]. Như trên đã nói, sự bùng nổ thông tin là một tiền đề quan trọng cho sự ra đời của KTTT. Ngày nay việc xuất bản hoặc công bố một tài liệu dưới dạng in ấn hay điện tử đã trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ hết.
Các nguồn thông tin ngày càng đa dạng và phát triển. Ưu điểm của điều này là người dùng tin có nhiều lựa chọn hơn đối với các nguồn thông tin, dễ dàng tiếp cận các nguồn tin hơn. Tuy nhiên, mặt trái của nó là người dùng tin luôn phải tự đặt ra câu hỏi: thông tin này có đáng tin cậy không? có phù hợp với vấn đề của mình không? phải tổ chức những nguồn tin đó như thế nào đây? Khó có thể trả lời những câu hỏi trên nếu thiếu sự hiểu biết về thế giới thông tin, tức là thiếu KTTT. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về mặt cấu trúc, có một sự tương đồng giữa KTTT và kiến thức, kỹ năng mà người cán bộ nghiên cứu cần phải có khi tiến hành công việc nghiên cứu.
Nếu như KTTT là một tổng hòa của các khối tri thức và kỹ năng liên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin, định vị nguồn tin, thẩm định nguồn tin, tổ chức nguồn tin, sử dụng nguồn tin thì quy trình nghiên cứu cũng phải trải qua những bước tương tự. Trong quy trình nghiên cứu , dữ liệu được xử lý và trở thành thông tin hữu ích, đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Sinh viên khi tham gia nghiên cứu khoa học cần có kỹ năng và kiến thức liên quan đến việc khai thác, phân tích và tổng hợp các nguồn thông tin để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của mình. Hiệu quả của việc nghiên cứu do đó chịu ảnh hưởng rất lớn bởi khả năng xác định vấn đề cần nghiên cứu, cũng như cách thức tương tác với thế giới thông tin của sinh viên trong quá trình nghiên cứu khoa học.
Nói cách khác, nếu như được trang bị KTTT, sinh viên sẽ chủ động và tích cực hơn trong hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của mình.2 Nội dung của kiến thức thông tin Tại nhiều nước phát triển trên thế giới, để phổ biến kiến thức thông tin, người ta đưa ra khung nội dung kiến thức thông tin thông qua các tiêu chuẩn sau đây [20; tr. 11-22]: * Khả năng nhận biết nhu cầu thông tin Người có khả năng nhận biết nhu cầu thông tin của chính mình là người biết: - Xác định, định vị và liên kết nhu cầu thông tin: tìm hiểu các nguồn thông tin cơ bản phù hợp với chủ đề cần nghiên cứu; nhận dạng các từ khoá và thuật ngữ cốt lõi; xác định hoặc sửa đổi nhu cầu thông tin của vấn đề; hỏi ý kiến của những người xung quanh để hiểu rõ chủ đề nghiên cứu hay nhu cầu thông tin khác. - Hiểu được mục đích, phạm vi và sự thích hợp của các nguồn thông tin khác nhau: hiểu được cách tổ chức thông tin, phổ biến và sự phù hợp với nội dung chủ đề nghiên cứu; hiểu được sự khác nhau giữa các giá trị, các nguồn thông tin tiềm năng; hiểu được sự khác nhau giữa nguồn thông tin cấp một và nguồn thông tin cấp hai, hiểu cách sử dụng chúng một cách khoa học với mỗi chủ đề. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Biết đánh giá lại bản chất của nhu cầu thông tin: xem lại nhu cầu thông tin ban đầu nhằm làm rõ hơn, xem xét lại hoặc thu gọn câu hỏi tìm kiếm; liên kết và sử dụng các tiêu chuẩn để tạo ra các lựa chọn, tạo ra các quyết định thông tin.
- Sử dụng các nguồn thông tin để ra quyết định: hiểu được các nguồn thông tin khác nhau sẽ biểu hiện dưới những dạng khác nhau; sử dụng các nguồn thông tin một cách có hệ thống để hiểu các vấn đề cần nghiên cứu; sử dụng thông tin cho việc ra quyết định và giải quyết vấn đề. * Tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả, chính xác - Lựa chọn phương pháp hoặc công cụ phù hợp nhất để tìm kiếm thông tin: xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp; hiểu được những thuận lợi và khả năng áp dụng của các phương pháp nghiên cứu khác nhau; xác định được mục tiêu, nội dung và cấu trúc của các công cụ truy cập thông tin; tham khảo thủ thư và các chuyên gia thông tin để xác định các công cụ tìm kiếm. - Xây dựng và thực hiện các chiến lược tìm kiếm hiệu quả: phát triển kế hoạch tìm kiếm phù hợp với phương pháp nghiên cứu; xác định chính xác từ khoá, từ đồng nghĩa và các thuật ngữ liên quan đến nhu cầu thông tin; xây dựng và thực hiện một chiến lược tìm kiếm sử dụng câu lệnh phù hợp; thực hiện tìm kiếm sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với chủ đề, môn học. - Sử dụng các phương pháp phù hợp để tim ̀ kiế m thông tin : sử dụng các công cụ truy cập thông tin phù hợp để truy cập thông tin dưới nhiều dạng khác nhau; sử dụng dịch vụ thông tin phù hợp để tiếp cận nhu cầu thông tin như cung cấp tài liệu, phổ biến tin….; sử dụng các điều tra, thư, phỏng vấn và các hình thức thẩm định khác để truy cập tới nguồn thông tin cấp một (thông tin gốc).
- Cập nhật các nguồn thông tin, công nghệ thông tin, các công cụ truy cập thông tin và các phương pháp nghiên cứu: Duy trì kiến thức về vai trò của thông tin và công nghệ truyền thông; Tạo được thói quen đọc lướt các nguồn tin in ấn và điện tử. * Khả năng đánh giá thông tin và quá trình tìm kiếm thông tin - Đánh giá các nguồn thông tin hữu ích và có liên quan: Đánh giá chất lượng và sự phù hợp của kết quả tìm kiếm và sử dụng công cụ tìm kiếm thông 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com minh hoặc phương pháp phù hợp; Nhận dạng và xác định lỗ hổng thông tin và thay đổi chiến lược tìm kiếm; Thực hiện tìm kiếm lại, sử dụng chiến lược tìm kiếm mới nếu cần thiết.